【#1】Cách Làm Kem Xôi Dừa Món Ăn Vặt Dẻo Mịn Lạ Miệng

Bạn đang tìm hiểu cách làm kem xôi dừa sao vừa nhanh mà lại vẫn đảm bảo ngon miệng và dinh dưỡng? Vậy thì hãy tham khảo ngay bài viết của chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết cách làm món kem này!

1. Nguyên liệu để làm kem xôi dừa

2. Cách làm kem xôi dừa nhanh nhất

Bước 1: Nấu xôi

  • Đem lá dứa đã chuẩn bị rửa sạch, cắt thành khúc nhỏ và cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn rồi lọc qua rây để lọc lấy nước cốt.
  • Gạo nếp ngâm trong nước cốt lá dứa vừa lọc được khoảng 2 tiếng thì vớt ra rổ cho ráo nước.
  • Cho gạo nếp vào nấu xôi như bình thường. Khi xôi chín cho thêm vào từ 1 – 2 muỗng đường rồi trộn đều lên cho ngọt xôi.

Bước 2: Chuẩn bị phần kem

Công đoạn này cũng tương tự như bài Cách làm kem dừa đã đề cập lần trước, chỉ khác là bạn cần cho hỗn hợp lên bếp để đun ấm. Như vậy khi ăn với xôi sẽ tăng thêm phần dẻo dai và ngon hơn.

  • Trứng gà tách lấy lòng đỏ rồi cho vào máy đánh trứng và đánh với tốc độ trung bình. Tới khi thấy nổi bọt thì cho thêm vào đường cát và vẫn tiếp tục đánh đều tới khi hỗn hợp chuyển màu vàng nhạt và mềm mịn.
  • Cho tiếp bột năng vào hỗn hợp và khuấy đều. Sau đó cho hỗn hợp lên bếp đun với lửa nhỏ. Vừa đun vừa khuấy đều tay tới khi thấy hỗn hợp đã mịn, sền sệt thì cho thêm vani rồi tắt bếp.
  • Chờ khi kem nguội thì cho vào hộp, đậy kín và bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh. Cứ 30 phút lại lấy ra trộn đều lên. Thực hiện từ 2 – 3 lần như vậy để kem không bị đá dăm.

Bước 3: Trình bày thành phẩm

Có thể cho kem ra cốc, ly hoặc vỏ dừa đã nạo như cách làm kem dừa Thái Lan rồi trang trí bằng cách rắc lên kem đậu phộng, dừa sấy hay trái cây tươi,…

Bước 4: Cách bảo quản kem xôi dừa

Ngoài việc biết cách làm kem xôi dừa thì các bạn còn phải biết bảo quản như thế nào. Nên bảo quản kem xôi dừa trong hộp kín bằng nhựa hoặc tốt nhất là bằng thủy tinh rồi để ở ngăn mát tủ lạnh để ăn dần.

Riêng phần kem cũng khá tương tự với cách làm kem sữa dừa non, bạn có thể kết hợp món xôi này với kem sữa dừa non cũng ngon lắm đấy!

  • Nên chọn các nguyên liệu sạch, đảm bảo vệ sinh, an toàn cho sức khỏe.
  • Các dụng cụ dùng để đựng kem nên được làm từ sứ, thủy tinh.
  • Nên sử dụng máy làm kem hoặc máy đánh trứng chuyên dụng để lớp kem mềm mịn. Nếu chưa có có thể tìm mua tại Tam Long Group để giúp quá trình làm kem nhanh và hiệu quả hơn.

Tam Long Group biên soạn:

【#2】Cách Làm Món Lẩu Cá Kèo Thơm Ngon Đúng Hương Vị Nam Bộ

– Khi ăn múc riêng từng phần nước lèo ra nồi lẩu nhỏ để dùng, cắt nhỏ ngổ và ngò gai cho vào cùng, thêm vào một ít ớt. Nấu sôi nước lên, cho cá kèo vào dùng thì nhanh tay, để cá không quẫy bắn nước, cá chín gắp ra chấm ăn với nước mắm. Dùng với bún và rau ăn kèm.

Lẩu cá kèo là món lẩu mang đậm hương vị đặc trưng Nam Bộ. Vị chua chua của lá giang, ngọt mềm của cá kèo sẽ khiến thực khách ăn một lần nhớ mãi không quên.

Nguyên liệu làm lẩu cá kèo

– 0.5kg cá kèo sống

– 300gr rau đắng (hoặc lá me chua)

– 0.5kg rau đắng

– 4 quả cà chua

– 1 muỗng tỏi băm

– 3 củ hành tím

– Rau muống, giá, hoa chuối bào, rau ngổ, rau mùi tàu,…

– Gia vị

– Bún ăn kèm

Cách làm lẩu cá kèo chuẩn vị Nam Bộ

– Cá kèo mua về xóc với muối, rửa với chanh cho cá sạch nhớt, sau đó đem bỏ vào tô và đậy kín nắp lại.

– Lá giang bỏ phần dây và rửa sạch, để ráo nước., vò nát lá hoặc dùng chày đâm sơ. Rau đắng nhặt những phần lá non, rửa sạch và để cho ráo nước. Mùi tàu, giá và lá ngổ rửa thật sạch.

– Rau muống nếu thích ăn phần lá cứ để vậy, nhặt lấy rau ngon rồi rửa sạch. Nếu thích ăn phần cọng thì nhặt hết lá, rồi chẻ nhỏ ngâm với nước.

– Dùng dao bào, bào hoa chuối. Để giữ hoa chuối không thâm màu, cho 1 ít giấm vào chậu nước rồi bỏ phần hoa chuối vào ngâm. Gần lúc ăn thì vớt ra ngoài cho ráo nước. Nếu muốn nhanh thì có thể mua sẵn hoa chuối bào rồi ngoài chợ và về chỉ rửa lại.

– Sau khi rửa sạch cà chua, bổ múi cau, lọc bớt hạt.

– Băm nhuyễn tỏi và hành, sau đó cho vào nồi phi thơm vàng. Khi hành tỏi phi đã được, đổ khoảng 1,5 lít nước vào nôi, đun sôi lên.

– Tiếp theo cho lá giang vào nồi nước, cho cà chua vào. Thêm vào gia vị: 2 muỗng cà phê đường, 1 muỗng cà phê muối, 1 muỗng cà phê bột ngọt và muỗng nước mắm. Đợi nước sôi lại, nêm nếm gia vị xem có vị chua ngọt vừa ăn chưa. Được rồi thì tắt bếp.

– Khi ăn múc riêng từng phần nước lèo ra nồi lẩu nhỏ để dùng, cắt nhỏ ngổ và ngò gai cho vào cùng, thêm vào một ít ớt. Nấu sôi nước lên, cho cá kèo vào dùng thì nhanh tay, để cá không quẫy bắn nước, cá chín gắp ra chấm ăn với nước mắm. Dùng với bún và rau ăn kèm.

Cùng Danh Mục :

Comments

【#3】Tổng Hợp Cách Làm Tinh Dầu Bưởi Nguyên Chất Tại Nhà Mà Đơn Giản

Trong số các loại tinh dầu, tinh dầu bưởi với các công dụng tuyệt vời của nó ngày càng được nhiều người, đặc biệt là các chị em sử dụng. Nắm bắt được xu thế đó, thị trường tinh dầu bưởi ngày càng được mở rộng với nhiều nhãn mác khác nhau, nơi sản xuất khác nhau, đưa ra nhiều lựa chọn đa dạng phong phú tới người tiêu dùng. Nhưng giống như món ăn ngoài hàng dù thuận tiện và ngon đến đâu thì vẫn có nhiều người muốn tự tay chế biến để đảm bảo rẻ và an toàn, nhu cầu tự làm tinh dầu bưởi tại nhà của các chị em tương đối phổ biến. Bài này, Sống Khỏe 24h giới thiệu cho độc giả một số cách làm tinh dầu bưởi tại nhà nhanh và đơn giản nhất như một lời gợi ý thiết thực.

Tinh dầu bưởi là gì? Lợi ích của tinh dầu bưởi

Tinh dầu bưởi là loại tinh dầu được chiết suất từ vỏ quả bưởi, do vỏ bưởi chứa nhiều chất có vai trò quan trọng trong việc chống oxy hóa như Limonene, vitamin C, terpinene, myrcene, citronellol, pinene. Từ xa xưa khi chưa biết đến khái niệm tinh dầu, những người phụ nữ đã biết giữ lại vỏ bưởi, đốt thành tro lấy nước để làm nước gội đầu, giúp đem lại mái tóc khỏe mạnh và óng mượt hơn. Cho đến ngày nay, tinh dầu bưởi ngày càng được ứng dụng rộng rãi bởi tính đa năng của nó hơn các loại tinh dầu khác.

Những lợi ích tuyệt vời của tinh dầu bưởi:

  • Giúp giảm cân: Khi bạn ngửi mùi hương của tinh dầu bưởi, cảm giác thèm ăn cũng như cảm giác đói của bạn sẽ giảm dần, do đó có tác dụng giảm cân. Tuy nhiên nếu bạn chỉ sử dụng liệu pháp tinh dầu đơn độc sẽ không đem lại hiệu quả, cần kết hợp thêm chế độ thể dục thể thao hợp lý, sinh hoạt điều độ, không lười vận động hay thức quá khuya. Ngoài ra, lượng nước dư thừa trong cơ thể cũng được loại bỏ nhờ tác dụng lợi tiểu của tinh dầu. Theo các nghiên cứu có cơ sở khoa học, hương thơm của tinh dầu bưởi tác động lên hoạt động của thần kinh giao cảm, tạo điều kiện để phân giải lipid và ức chế sự tăng cân. Với 1 sản phẩm giảm cân mà lại an toàn hơn nhiều so với các sản phẩm bán trôi nổi trên thị trường như thế này, có lẽ khó có chị em nào có thể từ chối được.
  • Tinh dầu bưởi là một chất kháng khuẩn tự nhiên: các vi khuẩn có khả năng xâm nhập vào cơ thể con người thông qua nguồn nước ô nhiễm, thực phẩm bẩn hoặc ký sinh trùng. Tinh dầu bưởi với khả năng kháng khuẩn giúp ngăn chặn sự xâm nhập đó, đặc biệt là vi khuẩn chúng tôi hoặc trực khuẩn thương hàn Salmonella. Việc sử dụng tinh dầu bưởi còn giúp tiêu diệt các loại nấm và vi khuẩn bám trên da, khử trùng nước ô nhiễm và bảo quản thực phẩm, tránh cho thực phẩm bẩn.
  • Tăng cường năng lượng cho cơ thể, giảm căng thẳng : thông qua cơ chế ức chế hoạt động của acetylcholinesterase, khả năng dẫn truyền thần kinh được tăng cường, từ đó cải thiện hoạt động của hệ thần kinh. Do đó, người sử dụng tinh dầu bưởi sẽ cảm thấy tràn đầy sức sống, giảm căng thẳng, mệt mỏi, bình tĩnh trước mọi áp lực của cuộc sống, tránh rơi vào tình trạng stress hay nguy hiểm hơn là trầm cảm, đem lại cuộc sống tinh thần phong phú hơn.
  • Cải thiện bộ máy tiêu hóa: Tinh dầu bưởi giúp tăng cường hoạt động của gan, dạ dày, thận do làm tăng lưu lượng máu đến những bộ phận đó, từ đó hoạt động tiêu hóa và bài tiết của cơ thể được cải thiện và tác động tích cực đến sức khỏe người sử dụng.
  • Điều trị mụn trứng cá và bảo vệ làn da: việc sử dụng tinh dầu bưởi giúp điều trị các tác nhân có hại cho da như mụn trứng cá, các vết thương, vết côn trùng đốt, ánh nắng mặt trời, tia UV… do đó mang lại làn da trẻ trung, khỏe mạnh, xa rời những nỗi lo về da.
  • Chăm sóc tóc hiệu quả: đây là lợi ích được ứng dụng rộng rãi nhất của tinh dầu bưởi. Nhờ đặc tính kháng khuẩn nên tinh dầu bưởi có thể làm sạch tóc và da đầu, loại bỏ những tác nhân có hại cho tóc như môi trường, ánh sáng mặt trời, các loại hóa chất sử dụng khi làm tóc như thuốc nhuộm, thuốc uốn,… tránh cho tóc bị tổn thương, gãy rụng, đặc biệt tốt khi thêm tinh dầu bưởi vào các loại dầu gội, dầu xả mà bản thân đang sử dụng.

Ưu, nhược điểm của tinh dầu bưởi

Bất kỳ một sự vật gì trên thế giới đều có 2 mặt của nó bao gồm mặt tích cực và mặt tiêu cực. Tinh dầu bưởi cũng không ngoại lệ. Trước khi sử dụng tinh dầu bưởi, bạn cũng nên nắm rõ được ưu điểm cũng như nhược điểm của nó để sử dụng một cách hiệu quả nhất.

Ưu điểm của tinh dầu bưởi:

  • Sản phẩm tinh chế từ thiên nhiên nên có độ an toàn cao.
  • Không gây bết dính cho tóc như 1 số loại sản phẩm bôi tóc khác.
  • Có mùi hương quyến rũ tự nhiên, mang lại cảm giác tự tin cho người sử dụng và sự dễ chịu của những người xung quanh. Một mái tóc luôn tỏa hương thơm tự nhiên chắc chắn là điều mà bạn cần.
  • Dễ dàng áp dụng ngay sau khi gội đầu thông qua việc massage trực tiếp lên da dầu, để khô tự nhiên ngoài không khí, không cần xả lại với nước nên thuận tiện cho việc sử dụng.
  • Giá thành hợp lý, phù hợp với khả năng chi trả của nhiều đối tượng sử dụng.
  • Được bán rộng rãi nên dễ dàng tìm mua sản phẩm hay nếu có tự làm thì cách làm cũng rất đơn giản, phù hợp với nhiều người.

Cách làm tinh dầu bưởi đơn giản

Cách làm tinh dầu bưởi xịt tóc

  • 01 quả bưởi tươi.
  • 01 chiếc lọ sạch được thiết kế có thể xịt, có thể mua được lọ này ở những cửa hàng tạp hóa, hàng mỹ phẩm… để đựng tinh dầu bưởi

Nguyên liệu:

Cách làm:

Bước 1: Gọt sạch vỏ bưởi. Chú ý gọt cẩn thận để không bị cay mắt. Chỉ nên lấy phần vỏ xanh, càng ít phần lõi trắng thì tinh dầu càng đặc và thơm hơn.

Bước 2: Cho tất cả vỏ bưởi đã cắt nhỏ vào trong nồi, sau đó đổ ngập nước khoảng 1/3 lượng vỏ bưởi chứa trong nồi, đặt ở giữa 1 chiếc bát ( thường là loại bát nhỏ ăn cơm ).

Bước 3: Đậy ngược nắp nồi. Đặt đá lạnh bên trên nắp để tinh chất từ vỏ bưởi bốc hơi lên gặp lạnh sẽ ngưng tụ và rơi xuống bát theo chiều nghiêng của nắp nồi.

Bước 4: Đặt nồi lên bếp. Bật bếp đun vỏ bưởi. Sau khi nước sôi thì vặn nhỏ lửa xuống để tinh chất bưởi tiết ra từ từ đồng thời cũng để vỏ bưởi không nhanh bị nhũn. Chú ý sau khi đun một thời gian nước đá sẽ bị tan. Bạn cần loại bỏ phần nước đá tan này và thay thế đá mới để tinh dầu bưởi tiếp tục ngưng tụ. Tiếp tục quá trình trong khoảng 30-40 phút sẽ thu được tinh dầu bưởi trong bát.

Bước 5: Đổ phần tinh dầu thu được vào trong lọ và đậy nắp. Ta thu được 1 lọ tinh dầu bưởi dùng để xịt lên tóc

Lưu ý trong quá trình đun cần điều chỉnh lửa và nước cho phù hợp để tinh dầu không lẫn tạp chất.

Cách làm tinh dầu bưởi trị rụng tóc

Đối với mục đích dùng tinh dầu bưởi để trị rụng tóc, không nhất thiết dùng ở dạng xịt, bạn đọc có thể tham khảo các hướng dẫn sau đây.

Cách làm tinh dầu hoa bưởi nguyên chất

Nguyên liệu:

Cách làm:

Đây là cách chưng cất tinh dầu cần nhiều công sức và kĩ thuật hơn nhưng kết quả bạn có sẽ là tinh dầu đậm đặc, nguyên chất.

Cách làm tinh dầu từ vỏ bưởi tươi

Nguyên liệu:

  • Rửa sạch vỏ bưởi tươi, để ráo nước ở rổ hoặc lau khô bằng khan. Lấy dao cắt sát lấy phần vỏ xanh.
  • Dùng một lọ thủy tinh đựng sẵn nước lạnh rồi cho vỏ bưởi vào. Đạy chặt nắp lọ lại rồi lắc đều, lộn ngược lọ
  • Mở nắp 1 cách nhẹ nhàng để nước chảy ra từ từ và giữ lại được phần tinh dầu.

Cách làm:

Lưu ý cách này chỉ áp dụng được với vỏ bưởi tươi.

Cách làm tinh dầu từ vỏ bưởi khô

Nguyên liệu:

  • Rửa sạch vỏ rồi thái nhỏ.
  • Cho hết phần vỏ đã thái nhỏ vào nồi sau đó đổ nước vừa ngập. Đặt nồi lên bếp, đun nhỏ lửa 20 phút.
  • Tắt bếp, để nồi nước nguội. Có thể dùng nước này để gội đầu trị rụng tóc hiệu quả.

Cách làm:

Lưu ý nếu không có vỏ bưởi khô thì bạn có thể đem vỏ bưởi tươi đi phơi nắng vài tiếng là dùng được.

Cách làm tinh dầu bưởi bằng máy ép

  • Vỏ bưởi tươi.
  • Nước.
  • Lọ thủy tinh tối màu.
  • Máy ép chuyên dùng để ép lấy tinh dầu.

Nguyên liệu:

  • Bỏ hết phần ruột trắng, lấy vỏ xanh của vỏ bưởi.
  • Ép vỏ bằng máy ép chuyên dụng.
  • Sau khi thu được chiết xuất, thêm nước với tỉ lệ 1 tinh dầu: 100 nước.

Cách làm:

Chú ý bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh để dùng được lâu dài.

Cách làm tinh dầu bưởi với dầu nền

Nguyên liệu:

Cách làm:

Lưu ý chỉ nên dùng phần vỏ bưởi màu xanh, càng ít phần ruột trắng càng tốt.

Cách bảo quản tinh dầu bưởi tự làm

Tinh dầu bưởi tự làm có hạn sử dụng ngắn hơn so với tinh dầu sản xuất theo dây chuyền công nghiệp do đó cần đặc biệt lưu ý cách bảo quản tinh dầu để dùng được lâu nhất.

Chuyên gia tinh dầu Dược sĩ Nguyễn Quý Dưỡng – Dược sĩ Đại học Dược Hà Nội. Các bài viết do tôi đăng tải trên Sống Khỏe 24h có nguồn tham khảo từ các Bác sĩ, Dược sĩ chuyên môn cao, bản dịch Tiếng Anh từ các tạp chí y khoa lớn Pubmed, FDA, The Lancet… Với kiến thức chuyên môn về lĩnh vực y tế sức khỏe cộng đồng, tôi luôn muốn bạn đọc tiếp cận được các thông tin đáng tin cậy, tránh xa tin giả, thiếu chính xác.

【#4】Đông Bắc & Tây Bắc Việt Nam

Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn(Hà Giang), thác Bản Giốc và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), v.v…; những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng. Năm 2010, nhiều công ty du lịch VN đã tổ chức tour du lịch vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam.

Tôi đã đi Hạ Long nhiều lần rồi nên kỳ này, tôi quyết định chỉ đi Sapa và vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam. Năm nay (2011), giá tour trong nước tăng cao do nhiều nguyên nhân(điện + nước + xăng dầu tăng, vật giá tăng nên cái gì cũng tăng theo); thậm chí so với giá tour nước ngoài(như đi Thái Lan, Campuchia, Sing – Mã, etc…) thì bà con thà rủ nhau đi nước ngoài vẫn thích hơn; nhất là thái độ phục vụ. Từ Saigon, tôi bay ra Hà Nội và công ty du lịch đón tại sân bay rồi đưa đi Sơn La, qua Mộc Châu (đường quốc lộ 6: Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Lai Châu) và ghé ăn trưa tại

Thị trấn Phù Yên. Nếu theo quốc lộ 37: Mai Sơn – Bắc Yên – Điện Biên – Phù Yên – Yên Bái, chúng ta sẽ đi Điện Biên hay Yên Bái.

Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã tổ chức nhiều tour ngắn ngày và đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia ” Quế Lâm Ngự Chế” – bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng, dưới lòng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ vòm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

Khi áng chiều đã trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những dòng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh bình, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn mình theo triền núi. Cách trung tâm thị xã gần 5 km, điểm tham quan và thư giãn tại khu Suối nước nóng Bản Mòng hiện ra còn nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đã lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xã Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những dòng suối nước trong veo và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần hòa quyện cùng điệu xòe bên ánh lửa bập bùng sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành trình về với Sơn La. Mời các bạn hãy đến thăm Sơn La.

Chiều, chúng tôi t ới TP Sơn La. Sau khi nhận phòng và dùng bữa tối , chúng tôi TP Sơn La về đêm Sơn La cách bia văn của hoàng đế đi thăm qua và đi tắm suối khoáng nóng rồi mới về nghỉ đêm tại khách sạn. Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố háng 1 năm sau. Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ “Quế Lâm Ngự Chế” gồm 140 chữ Hán.Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12

Những con đường rộng bình yên, những thiếu nữ dân tộc người Thái và Mường xúng xính trong váy áo với nhiều hoa văn làm say lòng khách lạ, làm tan đi cảm giác mỏi mệt sau một hành trình dài hơn 300km từ một bến xe của Hà Nội. Được xây dựng vào năm 1908, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ cấp tỉnh với diện tích 500m 2, sau được thực dân Pháp mở rộng diện tích lên gấp ba lần, nhà ngục Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là nhà tù thép, là nơi giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam.Với những căn phòng tối bằng gạch và đá khá kiên cố, mái lợp tôn, mùa hè nơi đây tựa một lò nung và mùa đông thực sự là một chiếc tủ lạnh trong gió mùa biên ải khắc nghiệt.Giữa những bức tường nhà ngục đổ nát như là minh chứng cho những tội ác dã man của kẻ thù, tình cờ tôi đã gặp bác Trần Nguyên, một cán bộ thông tin của chiến trường miền Đông Nam Bộ, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lặn lội từ Quân khu 4 ra thăm. Ông ra thăm với mục đích duy nhất là muốn được nghe lại những câu chuyện cảm động về hoạt động của chi bộ đảng nhà tù Sơn La, đi thăm và cảm nhận về sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử.

Cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Thái dẫn chúng tôi đi thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian… Đến mỗi một địa danh, chúng tôi lại được nghe những câu chuyện cảm động về sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù, tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, tổ chức vượt ngục… của những cán bộ ưu tú của Đảng như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu….

Cây đa bản Hẹo là địa điểm liên lạc bí mật giữa Trung ương Đảng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ địa điểm liên lạc này, Chi bộ nhà tù Sơn La nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương Đảng để tổ chức lãnh đạo đấu tranh giải phóng nhà tù, đưa các cán bộ trung kiên của Đảng trở về với phong trào cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều Đảng viên Cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7/3/1944. Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đồng chí Tô Hiệu, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cho khắc tấm bia đá có chữ Tô Hiệu, bí mật đặt dưới mộ đồng chí. Cây đào mang tên Tô Hiệu được trồng bên tường trại giam hiện nay vẫn còn, bốn mùa luôn xanh tươi như một minh chứng về sức sống lâu bền của cách mạng Việt Nam, thành một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt. Nhà tù Sơn La gồm có 5 nhà giam chính, 4 tháp canh cùng một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu trong lòng đất gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể. Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, và đến năm 1965, Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La, phá hủy một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại. Lần thứ nhất, san lấp hố bom, xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần thứ hai, vào năm 1994, phục chế lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Hiện nay, nhà tù Sơn La trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Hằng năm Bảo tàng Sơn La đã đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách là các em học sinh, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sinh viên, khách ngoại tỉnh và quốc tế tới thăm.

Tới thăm bản Cọ – quê hương của anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá

Bản Mòng là một địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng hấp dẫn thuộc xã Hua La, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Điều đầu tiên mà du khách cảm nhận được là cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình nơi đây. Những dãy núi nhấp nhô như thân rồng uốn lượn soi mình xuống dòng Nậm La. Trên các sườn đồi cà phê, mơ, mận, thông, tre mọc um tùm. Xa xa là rừng cây với các loại gỗ quý: đinh hương, sến, nghiến, thông, trẩu….và hàng chục loài hoa phong lan với nhiều màu sắc. Vào độ xuân về, hoa mơ, hoa mận và hoa ban đua nở trằng rừng với từng bày ong bay tìm mật tạo nên không khí vui nhộn. Khi đông về, hoa vông gai nở đỏ rực bên sườn đồi như tô điểm cho những ngôi nhà sản lợp ngói đỏ. Cái rét se lạnh cũng là thời điểm lý tưởng để thả mình trong dòng suối nước nóng.

Đến với vùng đất này du khách còn có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc có chữ viết từ thế kỷ XI. Hiện tại, Bản Mòng có 106 hộ dân thuần Thái sinh sống. Họ sống trong nhà sàn lợp ngói ven các sườn đồi. Bên trên nóc nhà được trang trí bởi các loại khau cút, và cửa sổ cũng có đủ các loại hình thù: hình ngà voi, hình mặt trăng… Người dân nơi đây làm các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, dệt thổ cẩm, đan lát, làm gốm.

Với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, những cư dân nơi đây đã biết tạo nên những món ăn dân dã nổi tiếng như món xôi được chế biến từ gạo nếp dẻo thơm ủ trong những cái ếp khảu nhỏ xinh xắn, món cơm lam nấu từ gạo được ngâm sau mấy giờ cho vào một loại ống tre non đốt trên than củi có mùi thơm đặc biệt, cá nướng, thịt khô, các món rau, măng đặc sản của vùng núi: măng lay, măng bói, măng đắng, nấm hương, nấm mối, rau sắng, sổm lôm…….

Trong những đêm trăng bên ánh lửa bập bùng trong nhà sàn, du khách sẽ được cùng với chủ nhà thưởng thức những hương vị đặc sắc cùng chum rượu cần. Lòng hiếu khách của người dân và phong cảnh hữu tình nơi đây sẽ giúp quý khách quên hết những mệt nhọc của một chuyến đi xa và những bận rộn đời thường. Những âm hưởng hòa quyện của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chim rừng thánh thót cùng điệu múa xoè, múa cánh bướm, múa piêu… thúc giục như mời chào quý khách cùng hoà nhập với âm điệu của lời hát Inh lả ơi…” chắc chắn sẽ để lại cho du khách cảm giác bâng khuâng, lưu luyến và mong có ngày được trở lại với Bản Mòng.

Hang Dơi thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với diện tích là 6.915 m2. Nơi đây dưới sự tác động của thiên nhiên đã tạo ra những hang động lớn với những cảnh đẹp mê hồn, cùng địa hình có độ dốc lớn những dòng suối chảy đã tạo ra những dòng thác khiến không ít du khách phải trầm trồ thán phục.

Từ đường quốc lộ, muốn tới hang thì bạn phải leo 240 bậc mới tới được cửa hang. Tuy nhiên, đường được tạo dáng uốn khúc nên sẽ làm giảm bớt cảm giác mỏi mệt của du khách. Khi lên đến cửa hang, điều đầu tiên mà du khách cảm nhân được chính là khí hậu nơi đây vô cùng mát vẻ khiến bao mỏi mệt bỗng chốc tan biến.

Những dãy núi uốn lượn bao quanh thung lũng tạo nên một cảnh tượng có một không hai: Vào buổi sáng thì bầu trời chỉ toàn một màu trắng, đến buổi trưa thì màu xanh biếc, buổi trưa thì rực hồng và màu tím biếc khi hoàng hôn.

Từ cửa hang bước vào, du khách sẽ cảm thấy sững sờ khi thấy một cảnh sắc diệu kỳ hiện ra trước mắt trong ánh sáng mờ ảo từ cúa hắt vào như thể tạo hóa đã cảm tỉnh riêng với nơi đây mà nhô ra những vẻ đẹp kỳ thú. Trên trần động cao rủ xuống những dải nhũ thạch lấp lánh đủ 7 sắc cầu vồng.

Phần giữa hang vòm động được nâng cao lên, có bức mành đá chắn ngang và được gọi là buồng “Công chúa”. Bên phía trái là khối nhũ đá hình người con gái đang ngồi quay sợi. Không những vậy, nơi đây còn có rất nhiều nhũ đá đủ mọi hình dáng do thiên nhiên khéo léo tạo thành.

Trong lòng hang cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ, nhìn vào những đường nét trạm trổ trên nhũ đá cho ta cái cảm giác như có bàn tay của con người can thiệp vào bởi nó quá tinh xảo và sống động. Tuy nhiên, những cảnh đẹp nơi đây đều do thiên nhiên ban tặng.

Trên vòm hang có nhiều hốc đá, đây chính là tổ của những đàn dơi đông đúc, đen kịt và do đó nó mới có tên là Hang Dơi. Từ trên vòm hang, những giọt nước nhỏ xuống nhủ đá tạo nên một thứ âm thanh vô cùng thánh thót và êm dịu, thứ âm thanh đó đã khiến không biết bao du khách mãi nhớ đến Hang Dơi.

tiếp tục dừng chân nghỉ và ngắm cảnh t Sau đó, chúng tôi khởi hành đi Điện Biên, ngắm cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc với các bản dân tộc Thái, Mường. Trên đường đi chúng tôi rên đỉnh đèo Pha Đin (một trong những đèo dài nhất Việt Nam), thăm khu du lịch Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. D ùng bữa trưa tại khu du lịch Pa khoang.

Sân bay Điện Biên ngày nay

Phóng viên ảnh Hoàng Chương, Minh Nguyệt, Chị Oanh cùng Đào Xuân Mai và cây bút hài Nguyễn Hữu Nhiệm từ trái qua trước bảo tàng Điện Biên

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng đờ castri ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hai cô gái xinh đẹp là cộng tác viên bản tin từ trong hầm chỉ huy ra Minh Nguyệt, Hoàng Anh Phương

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Ngày xưa đồng vẫn màu đồng

Ngày nay đồng chuyển màu hồng sang …đen.

(Đó là cách nói ví von về các vị chức sắc biết cách “ăn đồng”).

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Đào Xuân Mai và anh Trần Hồi Trước hầm chỉ huy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Phó tổng giám đốc, Tổng biên tập bản tin

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Gái này chẳng phải Thái đâu Trong bản làng văn hóa Điện Biên

Trước hồ em đứng …lên màu liêu trai

Giới thiệu cách thức nấu xôi nếp cẩm Hoàng Anh Phương và cụ bà hơn trăm tuổi

Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và 6. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên. Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.

Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, Lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.

Khí hậu tỉnh Điện Biên là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC. Nhờ khí hậu núi cao, thiên nhiên hoang sơ nên Điện Biên đang được đầu tư để trở thành điểm du lịch nhưng nói thật là thái độ phục vụ & ăn uống quá tệ, e rằng khó có du khách nào muốn trở lại lần nữa.

Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.

Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.

Mấy năm nay con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng khiến khoảng cách giữa Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần và đây là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Thành thật mà nói thì ngồi thuyền trên sông vẫn thích hơn ngồi xe suốt ngày; ít ra cũng mát mẻ hơn và thoải mái ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ ở 2 bên bờ sông.

Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1. Các điểm du lịch

Đồi A1

Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi.

Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

Nằm tại khu phố 1, P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Bảo tàng Điện Biên Phủ được xây dựng vào năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

-Vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ.

-Tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ.

-Đảng chuẩn bị đường lối chỉ đạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

-Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ.

-Điện Biên Phủ ngày nay.

-Hầm chỉ huy tướng Đờ Cát : Nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Nằm trong một khu rừng nguyên sinh tại địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25km về phía đông.

Để đến đây du khách phải đi bằng ô tô, vượt qua dốc Tà Lơi hiểm trở và nhiều đoạn đường quanh co, khúc khuỷu. Gần với Sở chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi độ cao trên 1.000m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Đến sở chỉ huy, du khách sẽ được thăm các điểm sau :

-Chòi canh gác số 1

-Hầm thông tin liên lạc

-Đài quan sát

-Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

-Lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái

-Đường hầm xuyên núi dài 96m nối liền lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Hầm của ban cố vấn Trung Quốc

-Nhà hội trường

-Hầm ban chính trị

Đèo Pha Đin nằm trên đường từ Hà Nội lên Điện Biên, ở ranh giới giữa tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo Pha Đin

Đèo dài 32km, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh. Pha Ðin tiếng địa phương nghĩa là Trời Ðất. Theo truyền thuyết địa phương, đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất.

Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

Hồ Pá Khoang

Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km. Trong khu vực lòng hồ có các bản dân tộc Thái, Khơ Mú là những dân tộc còn giữ được những phong tục tập quán, nét đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc …

Hang Thẩm Báng

Thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Hang Thẩm Báng đã được xếp hạng di tích và là một điểm tham quan của du khách. Đây là hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn nguyên vẹn. Lòng hang rộng và sâu, cao gần 100m, có nhiều ngách.

Giữa hang có phiến đá to bằng phẳng như mặt bàn. Nhìn lên các vách, trần đá, nhiều măng đá, nhũ đá tạo thành những hình thù những con rồng, con phượng, sư tử, voi quì hoặc những đoá phong lan tuyệt đẹp.

Cầu Mường Thanh

Chiều: chúng tôi t ới Điện Biên, nhận phòng khách sạn xong là rủ nhau đi thăm và mua săm đồ lưu niệm tại chợ trung tâm Điện Biên Phủ. Sau đó, c húng tôi khởi hành đi tham quan bảo tàng Điện Biên, Viếng Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1, thăm Đồi A1, thăm Hầm sở chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries, Cầu Mường Thanh, Sông Nậm Rốm,v.v…

đền Hoàng Công Chất

Hầm bộ chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries

Sáng ngày thứ 3, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi khởi hành đi tham quan cửa khẩu Tây Trang – cửa khẩu quốc tế giữa Việt Nam và Lào. Trở lại TP Điện Biên, dùng bữa trưa tại nhà hàng.

khởi hành đi Lai Châu Chiều: Chúng tôi theo quốc lộ 4D dọc theo sông Nậm Na. Chúng tôi thăm quan cửa khẩu Ma Lu Thàng, tiếp tục khởi hành về TX Lai Châu, dùng bữa tối tại nhà hàng. Chúng tôi n TX Lai Châu ghỉ đêm tại khách sạn.( mới).

Sáng ngày thứ 4, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi trả phòng, khởi hành đi Tuyên Quang, qua Than Uyên, thăm Mù Cang Chải , ăn trưa tại thị trấn Tú Lệ.

Chiều: Tiếp tục hành trình qua t hị xã Nghĩa Lộ thăm suối Giàng, cây Chè 500 năm tuổi, tiếp tục hành trình qua thành phố Yên Bái về Tuyên Quang, chúng tôi nhận phòng khách sạn.Qua 400km, chúng tôi mệt lã người nên d ùng bữa tối tại nhà hàng xong là nhào lên tắm và ngủ 1 chút. Thức dậy, chúng tôi

dạo chơi tham quan thành Phố Tuyên Quang. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Một nhà thờ ở t hị xã Nghĩa Lộ

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Đồng Văn

Sáng ngày thứ 5, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành chúng tôi vào thăm quan Bảo tàng Tân Trào và nghe giới thiệu về khu đi khu di tích lịch sử Tân Trào (ATK) – thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi mà Đảng Cộng Sản Đông Dương tiến hành hội nghị toàn quốc (13/08/1945) đến Tân Trào, di tích lịch sử Tân Trào (ATK) thăm quan Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cây Đa Tân Trào, lán Là Nừa, ăn trưa tại thị trấn Hàm Yên.

khởi hành theo đường Chiều: Tiếp tục hành trình đi Mèo Vạc, chúng tôi 4C đi Mèo Vạc – “Cổng Trời”, với độ cao khoảng 1.000m so với mặt biển, địa hình chập chùng núi rất khó khăn trong việc đi lại nhưng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho huyện vùng cao biên giới này một sức hút kỳ lạ đối với du khách. Đến Mèo Vạc, chúng tôi thăm chợ Mèo Vạc.

“Cổng Trời”Mã Pi Lèng

nhà vua Mèo

Mèo Vạc

Sau đó, chúng tôi t Lãng mạn hơn cả là chặng đường Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang cặp theo dòng sông Lô, dòng sông đã đi vào nhạc phẩm nổi tiếng của Văn Cao, và những dãy núi đá vôi trùng điệp. iếp tục khởi hành đi Đồng Văn. Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực. Đầu hè, những triền ngô(bắp) xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người H’Mông đang hối hả cày cấy… Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang. Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang! Thắng cố và rượu ngô là 2 món phổ biến nhất ở vùng này.

Ấn tượng nhất là cung đường lên cao nguyên Đồng Văn, một bên vách núi dựng đứng còn bên kia là vực sâu và con lộ phía trước tưởng chừng hút thẳng lên trời cao. Một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Đông – Tây Bắc mà nhiều du khách mong đợi được đặt chân đến chính là điểm cực bắc Việt Nam trên đỉnh Lũng Cú. Nơi đây từng được ví là “nóc nhà Việt Nam”, nơi mà người dân đất Việt nào cũng đều mơ ước một lần thưởng lãm.

Sau quãng đường dài với những thử thách ấy, chúng tôi được đền bù xứng đáng vì phong cảnh hoang sơ, hùng vỹ trải dọc các danh thắng cổng trời Quản Bạ, núi Đôi, dinh thự vua Mèo, đèo Mã Pí Lèng, những làng mạc của người dân tộc H’Mông trắng, Lô Lô, Dao đỏ… cứ vụt qua ô cửa sổ xe trên từng cây số xe chạy qua.

Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng “lõi của cao nguyên đá” là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái “dưa mèo” mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng. Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.

Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua “cửa ải” Yên Minh. Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá “độc”. Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan. Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi trên trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!

Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước. Vào các buổi sáng chủ nhật, dưới những mái ngói thâm nâu ấy là cả một thế giới kỳ lạ của ẩm thực! Rượu ngô người Mông 8.000 đồng/ lít, uống say tràn cung mây. Một dãy nhà ngang của chợ được dành riêng cho hàng ăn uống với rất nhiều quán phở thịt lợn. Trước dãy nhà này, xôi bảy màu của người Tày xếp thành dãy. Xế vào phía uỷ ban huyện Đồng Văn là những phản thịt lợn và kế bên là các lò thắng cố thơm phức vị thảo quả lẫn với mùi khói gỗ nghiến hệt mùi gỗ pơ mu.

Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món “gà mèo”, một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá “ứng xử” với gà mèo. Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!

Tới đây chúng tôi không chỉ được thoả sức ngắm nhìn trời đất mà còn được tham quan một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn – đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên Núi Đá.

Đồng Văn ( Hà Giang)

Về địa thế, Hà Giang có 8 huyện, một thị xã thì 2 huyện phía Tây bắc là vùng cao núi đất và 4 huyện phía Đông bắc là vùng cao núi đá. Năm 2010 tổ chức unesco – Liên hiệp quốc đã công nhận vùng cao nguyên núi đá này là công viên địa chất Quốc gia và Quốc tế. Đây là công viên đá thứ 69 trong các công viên địa chất toàn cầu và thứ hai trong vùng Đông Nam Á.

Ngày 03/10/2010, Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cao nguyên này có diện tích 2.350 km2, gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, độ cao trung bình 1.400-1.600 m, nơi tập trung nhiều loại hình di sản, nổi bật là di sản địa chất và di sản văn hóa. Ảnh: Thanh Hà.

Khu vực phía Đông bắc Hà Giang gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được gọi một tên chung là cao nguyên Đồng Văn. Ở đây, đá chiếm đến 3/4 đất đai; người, vật, cây cối, sông suối bám vào đá để tồn tại, sinh sôi phát triển. Toàn bộ cao nguyên là di sản đa dạng địa chất, đa dạng cổ sinh địa tầng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế thuộc các lĩnh vực lịch sử tiến hoá của vỏ trái đất.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng.

Thị xã Hà Giang điểm khởi đầu của xứ sở cao nguyên đá. Con sông Lô hiền hoà phân đôi thị xã, phía hữu ngạn sông, phố xá, công sở nằm ven theo các chân dãy núi đá sừng sững; độ cao so với mặt biển của thị xã chỉ khoảng 400 mét, nhưng nhờ núi đá mà mùa hè khí hậu khá mát mẻ, dễ chịu không khác với Đà Lạt, Sapa bao nhiêu. Cao nguyên Núi Đá Đồng Văn là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Ai đến Đồng Văn cũng háo hức chinh phục độ cao của đỉnh kéo đến cổng trời Quản Bạ, dừng chân ngắm cảnh

Rời khỏi thị xã là tiếp cận ngay với thế giới huyền bí của đá và mây trời. Con đường độc đạo từ thị xã qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc khi len lỏi giữa những rừng đá lởm chởm, lúc men theo những vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm; có đoạn lại vượt qua những ngọn đèo cao vút, quanh năm mây phủ dày đặc, dân địa phương gọi đó là cổng trời. Thế giới đá ấy đã hình thành mấy trăm triệu năm trước, trải qua quá trình phong hoá thầm lặng và dữ dội đã tạo thành những khu vườn đá với nhiều hình thù kỳ dị, đặc biệt, hấp dẫn. Đó đây, trong các thung lũng hẹp, lớp lớp các khối đá to nhỏ xếp gối lên nhau giống như những đàn gấu đen bóng, tựa vào nhau đang nằm nghỉ ngơi. Các dãy núi có hình dạng kim tự tháp nối tiếp nhau chạy dài từ nam lên bắc, đỉnh nhọn cao ngất ngưỡng, sườn dốc lởm chởm đá tai mèo. Khắp vùng Đồng Văn, Mèo Vạc lại có những chóp đá, tháp đá có hình dạng ngộ nghĩnh như những nụ hoa, bông hoa hoặc kiểu rồng cuộn, hổ ngồi… sự cấu tạo đa dạng này đã làm cho cảnh quan toàn miền cao nguyên không buồn tẻ, hiu quạnh như các khu vực chỉ thuần đá vôi cổ. Vùng này trước kia trồng nha phiến và buôn ma túy nổi tiếng; nay là vùng định cư của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã trồng rất nhiều đào, mận tam hoa(nectarine), v.v… chúng tôinúi RồngNơi có cột cờ cao 17m treo quốc Kỳ Việt Nam đánh dấu vùng lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc.Sau đó

Cổng Trời Quản Bạ, ngắm Núi Đôi rồi mới khởi hành đi Lũng Cú.

11h30 trưa, chúng tôi đến thị trấn Đồng Văn ăn trưa.

13h30: chúng tôi lên xe đi tham quan Lũng Cú – Mảnh đất Cực bắc của Việt Nam.

14h30: chúng tôi tham quan Cột Cờ trên đỉnh núi Rồng – di tích đánh dấu vùng lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh những vách đá màu xám trắng lại xen kẽ những dãy đồi đá phiến thoai thoải bao phủ một lớp cỏ mượt mà màu xanh lá mạ, khi nắng chiều rải xuống, màn cỏ ánh lên một màu vàng vàng, tim tím cực kỳ huyền ảo. Sông suối chảy qua cao nguyên cũng khá kỳ dị, bí ẩn. Những dòng nước trắng xoá, trong veo đang réo ầm ầm bên chân núi bỗng nhiên mất hút trong lòng núi đá rồi lại hiện ra dưới các hẻm vực vừa dài vừa rộng như một lát dao sắc ngọt xẻ đôi khối núi đồ sộ. Sự đa dạng, phong phú về sinh học của cao nguyên cũng hết sức độc đáo. Xen lẫn giữa những khối núi đá hùng vĩ là các khoảnh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn với nhiều loại gỗ, lâm sản, dược liệu quý hiếm như: nghiến, thông đá, tùng bách, dẻ, thảo quả, hương nhu, đỗ trọng, nấm hương, các loài phong lan v.v… Cao nguyên đá cũng là môi trường thân thiện của trên 50 loài thú, bò sát, chim muông như: sơn dương, gấu, vọc, khỉ, hoẵng, heo rừng, cầy hương, kỳ đà, trăn, gà rừng, trĩ, đại bàng, hoạ mi v.v… Hai loại cây được xem là những cây đặc trưng của vùng cao nguyên đá, gồm đào phai và mận tam hoa, sẽ được trồng dọc tuyến đường vào các điểm du lịch, điểm dừng chân, danh lam thắng cảnh, làng văn hóa du lịch cộng đồng, xung quanh trường học, trụ sở cơ quan, quanh các hồ chứa nước sinh hoạt. Trên đoạn đường phía Tây từ thị trấn Đồng Văn qua Mèo Vạc là ngọn đèo Mã pí lèng, một cảnh quan địa mạo tuyệt đẹp. Đứng trên đỉnh đèo ta có cảm tưởng chỉ vài sải tay là có thể với được tới trời. Dưới chân đèo, bên hữu, ở độ sâu hơn 1000 mét là dòng sông óng ánh bạc Nho quế, con sông lớn nhất của cao nguyên bắt nguồn từ Lũng Cú, luồn lách, ẩn hiện qua nhiều dãy núi đá để đưa nước về hợp lưu với sông Gâm, chi nhánh lớn của Lô giang.

Cùng với những giá trị đặc hữu về địa chất, địa mạo, sinh học, cảnh quan… cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống đẹp đẽ của 22 dân tộc anh em cư trú nơi đây. Từ bao đời nay bà con các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã sáng tạo ra cách sản xuất, cách sống, ăn, ở… riêng biệt để thích nghi với môi trường thiên nhiên.

Từ thị trấn Đồng Văn ngược thẳng về phía Bắc khoảng 20 cây số là xã Lủng Cú, mỏm địa đầu của đất nước, nhìn lên bản đồ Việt Nam, cái chóp nhô cao như một mũi mác, chính là đất Lủng Cú. Những ngọn núi xếp lớp đơn nguyên nơi đây là điển hình của loại đá trầm tích, loại đá cổ nhất của trái đất. Lũng Cú ở độ cao gần 1800 mét. Đứng giữa xứ sở này, ta có cảm giác như đang sống bồng bềnh giữa mây ngàn gió núi; mây trắng bời bời phủ che trên đầu, trôi lững lờ dưới chân, bao quanh lẩn quất bên mình.

Tại thôn Séo Lũng, cách trung tâm xã gần 5 cây số có ngọn núi Rồng, cột cờ Tổ quốc dựng trên đỉnh núi, sát cột mốc số 17 biên giới Việt – Trung. Tên núi Rồng đã có từ lâu đời, do đồng bào địa phương đặt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên núi nơi địa đầu Tổ quốc với dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc ta. Lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54 mét vuông – tượng trưng cho 54 dân tộc anh em ngày ngày kiêu hãnh tung bay giữa trời xanh, khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc ta. Bao thế hệ qua, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, mọi áp lực, những người dân thuộc hai dân tộc kiên cường Mông, Lô Lô ở Lũng Cú đã không tiếc mồ hôi, xương máu để bảo vệ quốc kỳ, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng. Lớp lớp người dân Lũng Cú xứng đáng với niềm tin, sự kính phục của nhân dân cả nước.

Cho đến nay, cảnh vật, con người trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang vẫn giữ được khá đậm đà những nét hoang sơ, kỳ vĩ, tinh khiết có sức lôi cuốn đối với du khách trong và ngoài nước.

Phía tả đèo, một thung lũng hẹp hun hút dưới sâu với đôi ba chục nóc nhà nhỏ tựa lưng vào dãy núi đá vời vợi, một ngôi làng quá heo hút nhưng lại được khá nhiều người không chỉ Hà Giang biết đến, bởi hàng năm ở đây diễn ra một phiên chợ đặc biệt: chợ tình khau vai, mỗi năm chỉ họp một lần vào cuối mùa xuân. Gọi chợ tình là theo nghĩa thông tục, chứ ở đây, người về chợ là để giao lưu tình cảm, tình yêu đôi lứa, không hề có chuyện mua bán hiện đại. Chợ tình khau vai hay gọi đúng hơn ngày hội tình yêu – tình bạn là một trong những nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng của các dân tộc Đồng Văn.

Những ngày hội dân gian, các ngày phiên chợ hàng tháng, người người từ các bản làng gần xa tụ hội về đông vui tấp nập, màu sắc trang phục sặc sỡ, đẹp mắt; cả không gian tràn ngập tiếng cười nói, lời ca ngọt ngào, âm thanh đàn, khèn, sáo du dương, quyến rũ. Người lớn tuổi, thanh niên không phân biệt nam nữ gặp nhau trong các hàng quán bình dân, tuỳ lứa tuổi và sức khoẻ, họ mời nhau chén rượu ngô thơm nồng, bát thắng cố béo ngậy, bát cháo ẩu tẩu vừa có vị đăng đắng lại ngòn ngọt… những món ẩm thực đặc sản, ai được thưởng thức một lần là nhớ mãi….

Điểm cực Bắc của Tổ quốc và cũng là trung tâm của cao nguyên đá là thị trấn Đồng Văn. Nơi đây là xứ sở độc đáo về khí hậu và địa hình “Đất rộng mênh mông nhưng không được bao nhiêu thước bằng phẳng – Trời quanh năm không được vài ngày nắng”. Khu phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 19. Tuy thời điểm xây dựng không đồng nhất nhưng cung cách kiến trúc đều có nét khá tương đồng: nhà hai tầng, tường đá xanh, khung nhà gỗ không có mộng thắt, không chạm trổ cầu kỳ, mái lợp ngói âm dương… Hiện nay còn lưu giữ 20 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Dinh thự họ Vương và khu phố cổ Đồng Văn đã được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Phố thị Đồng Văn còn là nơi tiêu biểu của những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cao nguyên.

Thời Pháp thuộc, Vương Chính Đức đã giành được quyền tự trị đất Đồng Văn. Người kế nhiệm Vương Chí Thành đã ngăn giữ không cho người Nhật xâm nhập vào Đông Văn. Cách mạng tháng 8 thành công, Vương Chí Thành giao đất Đồng Văn cho chính quyền cách mạng quản lý. Bác Hồ kết nghĩa huynh đệ với Vương Chí Thành, những năm 60 thế kỷ trước ông được Bác Hồ mời về sống ở Hà Nội để có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tuổi già.

Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc dân gian dân tộc ấy là dinh thự họ Vương ở Sà phìn, cách thị trấn Đồng Văn khoảng 10 cây số. Đây là dinh thự của Thổ ty Vương ChínhĐức. Đầu thế kỷ thứ 20, khi chấp chính ngôi vị Thổ ty – một chức quan cai trị Đồng Văn, Vương Chính Đức triệu thợ giỏi các tộc người Mông, Lô Lô, Phù Lá… các địa phương trong vùng về xây dựng dinh thự. Toàn bộ 10 ngôi nhà ngang, dọc rộng hơn 1200m2, các dãy nhà phụ, tường rào bao quanh đều xây bằng đá. Từng chi tiết xây cất, đẽo gọt đá, gỗ ván đã thể hiện sự khéo léo, tinh tế, đặc sắc của tay nghề những người thợ dân gian bản địa.

Những khoảnh đất trong các thung lũng giữa trùng vây đá núi được kết cấu thành những mảnh ruộng bậc thang; tận dụng các hốc đá tai mèo, bà con đã gùi đất lên bỏ vào từng hốc để gieo ngô, đậu. Vào mùa hè, mùa mưa ở cao nguyên, lúa, ngô, đậu, lanh, tam thất, hương nhu… trên nương rẫy, hốc đá vách núi tốt tươi xanh mướt hoà lẫn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dại và cỏ mật. Nhà cửa, bờ rào vườn tược, chuồng gia súc đều xây dựng bằng đá. Nghệ thuật kiến trúc đá đã đạt mức độ tinh xảo.

dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn

Trong tour du lịch về miền đá Đồng Văn, Lũng Cú, không ai muốn bỏ qua cơ hội thăm di tích nhà họ Vương, một dinh thự cổ ngủ vùi giữa thung lũng sa mộc, hội tụ nhiều giá trị kiến trúc Trung Hoa và người Mèo Hà Giang. Người ta vẫn gọi đây là dinh vua Mèo.

Mái ngói âm dương phân lớp theo kiến trúc cổ

Dinh vua Mèo ở huyện Đồng Văn, cách Hà Nội chừng 500km, sau khi vượt qua những chặng đường men theo sườn núi, ngoằn ngoèo như những sợi chỉ, vượt qua Cổng trời Quản Bạ. Nơi đây, một thời, ông Vương Chính Đức đóng Cổng trời lại, xưng vương. Miền đá tỉnh Hà Giang hiếm có một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo thế này. Mấy chục năm qua, những ai lên đến Hà Giang thường không bỏ qua di tích này.

Nhà họ Vương nằm nép mình dưới tán rừng cây sa mộc cổ thụ, cao vút. Những phần nhà xuống cấp đã được phục hồi nguyên trạng. Toàn bộ hệ thống tường thành được xếp bằng đá nhẵn thín với phiến đá to, chẳng cần vôi vữa mà vẫn vững chắc. Nhà được bố trí theo kiểu cung điện Trung Hoa, được phân ra nhiều khu: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà kho, phòng của vợ ông Vương Chính Đức, hay nhà thờ. Trước cổng của ngôi nhà là ngôi mộ bằng đá chạm khắc tinh vi, là mẹ ông Vương Chí Sình, đại biểu Quốc hội các khoá I, II, III. Nơi đây còn lưu giữ một số hình ảnh về ông vua mèo oai phong lẫm liệt. Qua cổng chính là đến ba, bốn lần cổng nhỏ. Dọc hai bên hành lang của dãy nhà cao nhất là dãy nhà ngang, nhà dọc, bố trí từ thấp lên cao (theo lối kiến trúc Trung Hoa), phần trên là ảnh thờ ông Đức phóng to khi còn làm bang tá. Có cầu thang đi lên khu pháo đài, lỗ châu mai, có kè đá tảng. Các hạng mục chủ yếu được phục dựng bằng gỗ và đá. Một số đồ dùng xưa như tủ quần áo, lò sưởi của gia đình họ Vương vẫn được lưu giữ như những tín vật.

Sáng ngày thứ 6, chúng tôi dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành đi chúng tôi khởi hành đi chúng tôi tiếp tục khởi hành về thị xã Hà Giang nhận phòng, ăn tối. thăm quan chợ Đồng Văn. Sau đó, chúng tôi thăm Lũng Cú điểm cực Bắc địa đầu tổ Quốc, thăm quan và chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc cực Bắc địa đầu tổ Quốc. Ăn trưa tại thị trấn Yên Minh, sau đó Nghỉ đêm tại Hà Giang.

Sáng ngày thứ 7, dùng điểm tâm tại khách sạn, khởi hành theo quốc lộ 2 qua Chiêm Hoá và đường 279. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng.

đi thuyền Chiều: Tới Ba Bể chúng tôi tham quan dọc theo Hồ 1, Hồ 2 và Hồ 3 tham quan động Puông bí ẩn, thác Đầu Đẳng kỳ vĩ, thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá. Thích nhất là đi du thuyền thăm hồ Ba Bể, hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi đi thăm đảo An Mã, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên trước khi dùng bữa tối & nghỉ đêm tại Ba Bể.

đảo Pò Gia Mải (đảo Bà Goá)

Sáng ngày thứ 8, dùng điểm tâm tại khách sạn, trả phòng, tới Cao Bằng khởi hành đi Cao Bằng theo quốc lộ 3. Qua 250km, chúng tôi TX Cao Bằng

Chiều: Đi thăm khu du lịch thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam nằm ở địa phận xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn . Thác Bản Giốc là thác đẹp thuộc hàng đệ nhất danh thác Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới VN và Trung Quốc, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km, theo tỉnh lộ 206 về phía bắc.Điều thú vị trong chặng đường gần 400 km từ Hà Nội lên tới thác Bản Giốc, là du khách có thể tha hồ ngắm cảnh đẹp. Qua cửa kính xe ô tô, núi rừng hùng vĩ xen kẽ trùng trùng điệp điệp nối vào nhau. Những cánh đồng ngát xanh, vạt hoa dại bên đường, nếp nhà yên bình nép mình bên núi, bầy trâu lọt thỏm giữa cánh đồng làm nao lòng du khách.

Thác Bản Giốc nằm trong dòng chảy sông Quây Sơn, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua biên giới hai nước VN và Trung Quốc, uốn lượn quanh chân núi Cô Muông, qua những cánh đồng thuộc địa phận Đàm Thủy. Gần cuối dòng chảy, dòng sông Quây Sơn đổ từ độ cao hơn 30 mét xuống dưới chân núi tạo thành dòng thác hùng vĩ, sủi bọt trắng xóa. Thác Bản Giốc được chia làm hai phần, phía nam là thác cao, phía bắc là thác thấp. Thác thấp là thác chính, hùng vĩ hơn, tiệp mình vào núi rừng rộng lớn nay đã thuộc TQ. Hôm chúng tôi đến, nhìn từ xa, dòng nước chảy từ trên cao xuống tựa những sợi tơ trắng xóa đang nằm vắt vẻo uyển chuyển trên núi rừng hoang sơ. Nước sủi tung bọt, ầm vang. Ánh nắng hắt trên nước, lấp lánh sáng. Vẻ đẹp, sự thuần khiết, hùng vĩ hòa quyện vào nhau.

Dòng sông dưới chân thác khá phẳng lặng, có thể đi thuyền tham quan. Ở đây có dịch vụ chèo thuyền đưa khách tham quan toàn bộ thác Bản Giốc và những cánh rừng, đồng ruộng bên bờ Quây Sơn. Cuối chiều, mặt trời xuống, ngắm nhìn thác nước tuôn trào, cảm giác thật lạ. Gió biên cương thổi lành lạnh, nhìn mặt sông xanh ngắt, lại ngước lên nhìn dòng nước tuôn trào, tựa như phun ra từ núi, đủ khiến niềm xúc cảm không tên trong lòng trỗi dậy.

Ở Bản Giốc, đến nay vẫn chưa phát triển dịch vụ ăn, ngủ cho khách du lịch. Vì vậy, chiều buông, chúng tôi phải lên xe về lại thị trấn Trùng Khánh tìm chỗ nghỉ ngơi. Nhưng không vì trở ngại nhỏ đó mà du khách phiền lòng. Bởi, chính sự hoang sơ nơi ngọn thác biên cương là điều làm người ta thấy thú vị.

rả phòng rồi khởi hành đi qua 200km để tham quan Pác Bó có nghĩa là “đầu nguồn” theo tiếng bản địa. Nơi đây được coi là cội nguồn của Cách mạng Việt Nam bởi địa danh này gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và cách mạng nước ta những năm 1941-1945, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi của Hồ Chí Minh lúc đó) đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Sáng ngày thứ 9, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi t khu di tích Pắc Bó – nơi ở và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến từ 1941 đến 1945. Quốc Từ thị xã Cao Bằng đi tiếp 52km đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng du khách có thể tới thăm Khu di tích Pác Bó. đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng Tám năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập” – cơ quan truyên truyền của Mặt trận Việt Minh, thành lập đội du kích Pác Bó.

Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Quốc đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Quốc trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đầu tháng 12/1944, tại Nà Sác, Quốc đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 04/05/1945, Quốc rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 20/02/1961, Hồ chí Minh về thăm lại Pác Bó sau 20 năm xa cách.

Sáng ngày thứ 10, dùng điểm tâm tại khách sạn xong rồi đi thuyền tham quan Hồ Núi Cốc ; ăn trưa xong, chúng tôi khởi hành về Hà Nội.

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.

Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

– Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Hmông, Dao, Tày, Giáy… trong đó người Hmông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, còn lại là các dân tộc khác.

– Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất, Lào Cai được chia thành 8 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và thị xã Lào Cai.

– Ngày 7/5/1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

– Ngày 27/3/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 17/4/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 12/8/1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 10/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.

– Ngày 9/ 6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.

– Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

– Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.

– Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

– Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

Thắng cố là một món ăn của dân tộc Mông. Thắng cố biến âm của tiếng Thoảng, cố theo tiếng Mông có nghĩa là “nồi nước”. Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa, cách nấu cũng rất đơn giản. Thịt được ướp với muối, mỳ chính, thảo quả. Sau đó đổ thịt vào trong một cái chảo lớn, đảo đều cho miếng thịt săn lại thì đổ nước vào.

Bây giờ, thắng cố thường không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng có lẽ ngon nhất vẫn là thịt bò. Khi con vật được giết mổ, rửa sạch và để riêng từng bộ phận, lấy xương chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịt chín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào.

Ta có thể thấy niềm vui, sự đam mê, sự trân trọng cội nguồn của từng người Mông khi nấu món thắng cố. Họ cẩn thận ướp gia vị cho từng miếng thịt thơm đậm đà, múc từng muỗng bọt cho nồi nước thêm trong. Nồi thắng cố to sôi lục bục nổi lên những tảng mỡ to màu vàng nhạt điểm xuyến bằng những lá hành xanh ngắt, mùi thơm của thịt, của thảo quả, địa điềm quyện lại khiến ta có cảm giác chìm đắm trong tinh hoa thiên nhiên của đất trời ban tặng.

Vào quán gọi món thắng cố, ít phút sau thắng cố được mang lên. Đó là một cái nồi lẩu, như mọi cái nồi lẩu khác. Nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút, chỉ cần ngửi mùi thôi là cảm giác thèm ăn trỗi dậy.

Chai rượu được rót ra. Đây là rượu nấu bằng gạo, nhưng không phải là thứ men như ở dưới xuôi. Nó trong vắt, thơm ngái một chất lá và được giới thiệu là uống không bao giờ đau đầu.

Lượt thứ nhất lách cách cụng, dốc ngược đáy chén. Rồi những đôi đũa thay nhau lật tìm trong nồi lẩu ăm ắp. Đây là miếng dạ dày, đây là miếng ruột non, đây là miếng tiết, đây là miếng gan… Còn đây miếng cật, miếng tim, miếng vai… Tất cả được thái nhỏ, vừa gắp. Đúng là có mùi là lạ, đặc trưng, nhưng ăn được ngay, thấy ngon được ngay. Lại thêm bát tương, thìa gia vị, miếng chanh, lát ớt, đĩa rau thơm, rổ rau cải… Cái món thắng cố xa lạ đã thành gần gũi. Rượu cứ thế rót ra nhộn nhịp, thôi thì đủ lý do để dốc ngược chén cùng nhau. Uống rồi bắt tay, bắt tay thật chặt. Người ta bảo uống rượu Tây Bắc là uống mỏi tay.

Vào một ngày đông lạnh giá còn gì thú vị hơn là ngồi ăn một tô thắng cố nóng hổi, nhấm chén rượu ngô nóng, hàn huyên cùng bạn bè. Đây cũng là một nét văn hoá rất điển hình trong phong cách sống của người Mông.

Du khách đến Tây Bắc, lên những dãy núi hùng vĩ, ngồi bên hồ nước trong vắt và trong những niềm vui giản dị đơn sơ là bát thắng cố và rượu ngô nóng. Mùi thơm ấy, hương vị đậm đà quyến rũ ấy có lẽ sẽ không bao giờ quên được, nó sẽ đọng lại trong mỗi người khách khi đặt chân lên vùng đất đẹp và hiền hoà này.

Làng Cát Cát thuộc huyện Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa-Pa 2km.

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống

Bản Cát Cát trong sương sớm

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng… Kiến trúc nhà cửa của đồng bào nơi đây còn nhiều nét cổ như nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu hay bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang…

Làng Cát Cát có 100% đồng bào dân tộc Mông với nghề thủ công truyền thống là nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

Trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm –

sản phẩm thủ công truyền thống của bản Cát Cát

Một điều hấp dẫn nữa của làng Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ hay các lễ hội được tổ chức vào các thời điểm đầu xuân hoặc tháng cuối hè và mùa thu. Tuy chỉ có quy mô nhỏ và diễn ra trong phạm vi của làngvới các nghi lễ cúng “thổ ty” – “thổ địa” – những vị thần được thờ là những người có công lập làng nhưng mang đậm nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng độc đáo của dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam.

Tôi cũng có dịp tìm hiểu về các món ăn độc đáo của dân tộc Mông. Người Mông ở Cát Cát có rất nhiều món ăn với cách chế biến phong phú độc đáo: rượu ngô Mông, thắng cố, thịt hun khói “khăng gai”, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, món đậu xị…

Cát Cát là điểm du lịch tìm hiểu văn hóa người dân tộc gắn với thiên nhiên hoang sơ, một địa chỉ thích hợp cho những khách du lịch đã mệt mỏi với đời sống đô thị.

đi qua cầu treo tới thăm thuỷ điện cũ của người Pháp. thác Cát Cátt nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn

Chiều: chúng tôi đi mua sắm đồ lưu niệm tại chợ Sapa, khám phá thị trấn Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi chơi quanh thị trấn Sapa, tham gia phiên chợ vùng cao cùng đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, mua sắm các mặt hàng lưu niệm tại chợ Sapa, ăn trưa tại nhà hàng địa phương trước khi làm thủ tục trả phòng và trở lại thành phố Lào Cai. Chúng tôi ghé ăn trưa và mua sắm tại Chợ Mậu Biên Cốc Lếu. Ăn tối tại nhà hàng thành phố Lào Cai trước khi đáp chuyến tàu về Hà Nội. Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến đi từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn

Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là Đông Bắc để phân biệt với vùng Tây Bắc, còn thực chấ vùng Việt Bắc. Vùng Đông Bắc là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng). Đôi khi vùng Đông Bắc bao gồm cả Đồng bằng sông Hồng.

Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.

Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000-1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.

Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.

Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là “vùng trung du”. Độ cao của phần này chừng 100-150 m.

Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…

Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

Nhà thờ đá Sa Pa

Lịch sử

Cơ sở lục địa của miền Đông Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền Đông Bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.

Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0 °C và có mưa tuyết thậm chí tuyết. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Phá đường” từng nhắc đến cái rét ở đây: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”.

Phạm vi hành chính

Sắc tộc và văn hóa

Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như “Hà Giang quê hương tôi” và còn rất nhiều bài hát khác.

Vùng Đông Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Đông Bắc do Quân khu 1 bảo vệ.

Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở : Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v… Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v… Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc.

vườn Quốc gia Ba Bể (cách Hà Nội khoảng 250 km), thăm Bến Chòi.

Đến với Ba Bể, du khách có dịp du ngoạn trên hồ bằng thuyền độc mộc để cảm nhận và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên với Động Puông, Ao Tiên, Thác đầu Đẳng, Bản Pác Ngòi, tìm hiểu cuộc sống, văn hoá cũng như tập quán của các bản làng dân tộc sống trên triền núi bên hồ.

Thác Bản Giốc – Một trong những dòng thác hùng vĩ nhất Việt Nam tại biên giới Việt – Trung, thăm động Ngườm Ngao.

Ngày 04: Cao Bằng – Lạng Sơn – Hà Nội (Ăn sáng,trưa)

11h00: Đến Lạng Sơn quý khách dùng cơm trưa tại nhà hàng. Chiều mua sắm tại chợ Đông Kinh. 15h00: Xe đưa quý khách về Hà Nội, dừng chân tại Thị Trấn mẹt nghỉ nghơi, mua các sản vật địa phương.

19:00 Về đến Hà Nội. Chia tay quý khách. Kết thúc chương trình.

Đường lên Đồng Văn uốn lượn, điệp trùng với đá và đá

Thắng cố – món ăn truyền thống của người dân tộc tại chợ phiên Đồng Văn

Một ngôi nhà cổ tại Đồng Văn, được xây bằng tường trình – là đất nện theo khuôn – giúp cho đông ấm, hè mát

Có được tour “đi núi, về sông” ấy là nhờ từ đầu 2008, khi cửa đập thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) đóng lại, mực nước khu vực lòng hồ dâng lên giúp thông suốt tuyến đường nối huyện Bắc Mê (Hà Giang) với Na Hang theo sông Gâm và nối với hồ Ba Bể qua sông Năng.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng – cực Bắc của tổ quốc – với lá cờ có diện tích 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Để leo lên đến nơi, bạn phải trèo qua 283 bậc thang

Vì thế tuyến đường thủy Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Kạn được kéo lại gần. Một công ty lữ hành phía Nam đã phát hiện ra hành trình này, sau nhiều lần thử nghiệm, quyết định đưa vào khai thác tour từ cuối năm 2010.

Dòng Nho Quế uốn lượn quanh các vách núi dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng

Bắt đầu hành trình vượt sông Gâm, sông Năng vào hồ Ba Bể

Núi đã vôi trên sông Gâm, cảnh đẹp không khác vịnh Hạ Long

Những gốc cây còn sót lại của khu rừng nguyên sinh bị dòng sông vùi lấp

Nếu sông Lô lững lờ lượn dọc con đường lên với Đồng Văn, sông Nho Quế như dải lụa vắt ngang những dãy núi dựng đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, thì sông Gâm, sông Năng… hoang sơ, bình yên đến kỳ lạ. Đó là nhờ dòng sông ấy nằm lọt giữa khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bu.

Một ngôi chùa trầm mặc giữa lòng sông

Tàu chở khách cứ thế lướt nhẹ giữa hai bờ là núi đã vôi ẩn hiện. Lấp ló đâu đó vài chiếc thuyền buông lưới. Một vài gốc cây khô trơ trọi đột ngột hiện trên mặt nước như tiếc nuối cái thuở còn là nguyên sinh, nay đã bị sông vùi lấp. Một đàn trâu thơ thẩn gặp cỏ ven sông… Trong khung cảnh thơ mộng ấy, muộn phiền của cuộc sống thường nhật tan biến.

【#5】Cách Làm Món Vịt Rang Riềng Thơm Ngon Nức Mũi

Vịt rang riềng là món ăn lạ với nhiều gia đình nhưng chắc chặn bạn sẽ bị hấp dẫn ngay từ lần đầu tiên thưởng thức với thịt vịt tươi ngon,thơm ngọt, vỏ ngoài giòn thấm đẫm gia vị.

Vịt rang riềng là món ăn lạ với nhiều gia đình nhưng chắc chặn bạn sẽ bị hấp dẫn ngay từ lần đầu tiên thưởng thức với thịt vịt tươi ngon,thơm ngọt, vỏ ngoài giòn thấm đẫm gia vị. Cách làm vịt rang riềng rất đơn giản, chỉ vài thao tác đơn giản bạn đã có đĩa vịt hấp dẫn cho bữa tối .

cach lam vit rang rieng thom nuc mui, ngui da thay them hinh anh 1

– Thịt vịt: 1 kg

– Ớt sừng: 3 quả

– Sả: 50 gr

– Rau mùi: 30 gr

– Hành khô, tỏi: 50 gr

– Gừng: 1 nhánh

– Riềng: 1 nhánh to

– Gia vị: Muối, hạt nêm, dầu ăn, tiêu, ớt bột, rượu trắng

Cách làm vịt rang riềng

– Bước 1 (sơ chế nguyên liệu): Rửa sạch thịt vịt với nước rồi đem xát muối và rượu trắng, sau đó rửa sạch lại với nước nhiều lần để khử mùi hôi. Tiếp tục rửa lại thịt vịt với rượu trắng, sau đó rửa dưới vòi nước.

Sau khi thịt vịt đã được sơ chế sạch sẽ, bạn chặt thịt vịt thành nhiều miếng nhỏ vừa ăn rồi đem ướp với hạt nêm, tiêu, để 20 phút cho thịt ngấm đều gia vị.

Riềng gọt sạch vỏ, rửa với nước cho sạch rồi đem thái sợi hoặc cho vào cối giã nát. Sả nhặt bỏ gốc và phần lá già rồi đem rửa với nước sạch, băm nhuyễn. Ớt bỏ cuống và hạt, rửa sạch rồi đem thái lát. Hành, tỏi nhặt sạch rồi đem rửa, băm nhuyễn. Rau mùi các bạn nhặt bỏ gốc, lá úa rồi đem rửa sạch, cắt khúc dài.

– Bước 2: Bắc chảo lên bếp, đổ ba thìa dầu đun nóng. Khi dầu sôi, cho thịt vịt vào chiên, để lửa nhỏ cho thịt chín đều.

Khi thịt chuẩn bị ngả sang màu vàng thì cho vào chảo 1 thìa sả, 1 thìa hành, tỏi băm và đảo lên cho đến khi thịt chín. Việc cho các gia vị vào sau sẽ giúp thịt vịt có hương thơm của các loại gia vị mà không bị cháy gia vị.

Sau đó, các bạn vớt thịt vịt ra cho ráo dầu.

– Bước 3: Tiếp theo, các bạn phi thơm 2 thìa dầu ăn với riềng, ớt, sả, hành tỏi băm còn lại rồi cho thịt vịt vào đảo đều khoảng 3 phút.

Cuối cùng, các bạn bày thịt vịt ra đĩa, rắc rau mùi lên trên và thưởng thức với tương ớt hay nước mắm chua ngọt.

Lưu ý: Món vịt rang riềng ngon hay không quyết định nhiều ở khâu chọn vịt, vì vậy bạn cần chú ý chọn những con vịt trưởng thành và béo, ức tròn, da cổ và da bụng dày, mọc đủ lông (điểm mút của hai cánh vừa đủ đan chéo vào nhau). Những con vịt này làm lông sẽ nhanh, không tốn thời gian.

Cùng Danh Mục :

Comments

【#6】Cách Làm Món Ốc Nhồi Hấp Mẻ Nóng Hổi Cho Chiều Mưa

+ 1 kg ốc nhồi

+ 3/4 bát con mẻ

+ Gừng: 1 nhánh, sả (4 củ), lá chanh (10-15 lá), ớt (2 quả), gia vị (1/2 thìa cà phê).

+ Phần nước chấm gồm: Nước mắm, đường, quất (6 quả) hoặc chanh (1-2 quả), gừng, tỏi, ớt, sả, lá chanh băm nhỏ.

Cách làm ốc nhồi hấp mẻ như sau:

– Ngâm trước ốc trong nước vo gạo để ốc nhả sạch nhớt (khoảng 2-3 tiếng). Để nhanh hơn, bạn có thể thêm vào vài lát ớt cay. Dùng bàn chải nhỏ chà hết bùn đất bên ngoài, chặt đít ốc rửa cho sạch, vớt ra để ráo nước.

– Sả cây rửa sạch, để ráo, đập giập, cắt khúc ngắn.

– Ớt rửa sạch, thái khoanh, bỏ hạt nếu bạn không muốn ăn cay.

– Gừng dập dẹt, lá chanh rửa sạch.

– Xếp sả, lá chanh, gừng, ốc vào nồi, đổ thêm một bát con nước, 1/2 thìa cafe gia vị (Lưu ý chỉ cho một bát con nước bởi ốc rất nhanh chín và trong thân ốc đã có rất nhiều nước rồi, nếu bạn đổ quá nhiều nước vào sẽ khiến vị ngọt trong thịt ốc mất đi và làm giảm độ ngon của món ốc). Lưu ý không mở vung, không trộn ốc trong nồi khi chưa sôi bùng lên.

– Mẻ lọc bỏ xác, lấy nước cốt. Cho hỗn hợp tỏi xay, sả, gừng băm nhỏ, ớt thái lát, lá chanh thái nhỏ, 1 muỗng đường, 1,5 thìa con nước mắm vào nước mẻ trộn đều.

– Khi ốc sôi được khoảng 2 phút, ốc mở miệng tách vỏ, bạn đổ hỗn hợp mẻ vào nồi đảo đều khoảng 2 phút nữa cho ốc ngấm gia vị.

– Bắc nồi xuống ăn nóng cùng nước chấm ốc.

Cách pha nước chấm:

– Bạn pha nước chấm theo công thức: Nước mắm, đường, nước cốt chanh hoặc quất, nước sôi để nguội theo tỷ lệ: 2:2,5:1,5:3 trộn đều, cho hỗn hợp tỏi, ớt, sả, gừng băm nhỏ, lá chanh thái con chì nhỏ, quất thái lát mỏng, mỳ chính, khuấy đều cho các nguyên liệu hòa quyện vào nhau.

Ốc hấp mẻ nên ăn ngay khi còn nóng “bỏng tay”. Đây thực sự là món ăn hấp dẫn trong tiết trời se lạnh này.

Chủ bếp Thu Hiền

Cùng Danh Mục :

Comments

【#7】Cách Làm Món Nấm Rơm Kho Tiêu Xanh Ngon Chuẩn Vị

Nấm rơm kho tiêu xanh có lẽ đã quá quen thuộc với chị em nội trợ mình. Nhưng ít ai biết được món này muốn ngon thì phải có bí quyết.

300gr nấm rơm

Muối tiêu, tiêu hột đâm

Gia vị: đường, nước tương, dầu mè, dầu hào, hành boa rô

Cách thực hiện

– Nấm rơm cắt sạch gốc, ngâm với nước muối pha loãng khoảng một tiếng, sau đó rửa nhiều lần, để ráo nước.

– Làm nước sốt: 3 muỗng nước tương, một muỗng đường, 1/3 muỗng muối tiêu, ½ muỗng tiêu đâm (hạt tiêu giã nhỏ), một ít dầu mè và dầu hào, 1 muỗng canh hành boa rô giã lấy nước. Trộn lẫn các gia vị với nhau.

– Làm xong nước sốt, cho nấm rơm vào rồi ướp 1-2 tiếng đồng hồ.

– Làm nóng nồi đất, cho dầu vào xào xác hành boa rô và nấm sơ qua, nêm nếm với nước tương cho vừa miệng. Để lửa vừa, đảo nhanh tay khoảng 10 phút. Sau đó bỏ tiêu xanh, một chút ớt, đảo qua rồi bắc xuống. Thưởng thức lúc còn nóng sẽ giúp bạn nếm trọn vị ngon cũng như mùi thơm của món ăn.

Mách nhỏ: Tiêu xanh không khiến món ăn cay mà ngược lại, nó tạo ra mùi hương thơm nức “đố ai quên” cho món ăn. Dùng món này ăn kèm với cơm trắng trong những ngày mưa lạnh thì ngon hết sẩy.

Một vài lưu ý giúp mẹ nấu ngon hơn

– Để chế biến món nấm rơm kho tiêu xanh được thơm ngon, mẹ nhớ chọn loại nấm búp, cứng và tròn đều. Không nên chọn loại nấm quá to hoặc đã nở.

– Khi xào hành boa rô nhớ chắt nước sốt ướp nấm vào xào chung.

– Ướp nấm càng lâu càng ngon, ướp như vậy khi kho thời gian ngắn nấm vẫn no tròn không teo nhưng vẫn thấm gia vị.

– Khi rửa nấm bạn có thể ngâm nấm 5 – 10 phút với nước đá để lúc kho sẽ ngon và nấm giòn cứng hơn. Trong thời gian ướp bạn cũng nên bỏ nấm vào ngăn mát tủ lạnh.

– Ướp nấm với xíu dầu hướng dương sẽ dậy mùi thơm hơn nhiều.

– Kho nhanh tay đảo liên tục, khi vừa sệt thì tắt bếp.

Chúc các mẹ thành công với món nấm rơm kho tiêu xanh no tròn căng bóng!

Cùng Danh Mục :

Comments

【#8】Hướng Dẫn Cách Làm Cháo Mực Cho Bé Ăn Dặm

Mực là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, với hàm lượng protid, chất béo, khoáng chất và các axit amin lớn giúp cung cấp các dưỡng chất đầy đủ cho cơ thể của bé, hỗ trợ cho quá trình phát triển toàn diện. Loại hải sản này cũng là một nguồn cung cấp Niacin, kẽm, phốt pho, đồng, selen, hơn nữa mực còn chứa ít chất béo bão hoà, khá là an toàn khi nấu cháo mực cho bé ăn dặm.

Khi nào mẹ dùng cháo mực cho bé ăn dặm

Đối với các bé từ 8 tháng tuổi trở xuống, mẹ nên hạn chế bổ sung các thực phẩm thịt vào trong thực đơn của bé, điều này giúp cho hệ tiêu hoá của bé có thể làm quen dần với các thực phẩm có độ đạm cao và cũng để làm bước khởi đầu cho bé làm quen dần với các loại thịt.

Khi các bé đến độ tuổi 8 tháng, mẹ có thể bắt đầu bổ sung món cháo mực cho bé ăn dặm kèm theo các loại rau củ khác giúp cho món cháo trở nên ngon miệng và không làm cho bé bị ngán.

Tuy nhiên mẹ vẫn nên áp dụng đúng nguyên tắc thử ít, để kiểm tra phản ứng của cơ thể bé. Có một số bé có thể bị dị ứng với thịt mực do bẩm sinh và đặc biệt với những bé bị rối loạn tiêu hoá thì mẹ càng không nên bổ sung món này vào trong thực đơn.

Một số công thức chế biến cháo mực cho bé ăn dặm

Cháo mực cho bé ăn dặm với cà rốt

Nguyên liệu chuẩn bị: Cách chế biến:

  • Lấy mực bỏ lớp vỏ bên ngoài, dùng dao rạch bụng bóp với muối để khử mùi. Sau đó rửa lại bằng nước lạnh. Thái mực thành lát nhỏ, ướp gia vị vừa ăn.
  • Mẹ đem gạo đi vo sạch, ngâm nước khoảng 1 tiếng giúp cho gạo mềm, nấu nhanh nhừ hơn.
  • Hành củ lột vỏ, băm nhuyễn. Cà rốt thì gọt vỏ rồi luộc chín thái hạt lựu.
  • Lấy những lát nhỏ mực và cà rốt cho vào máy xay, xay nhuyễn.
  • Gạo đem đi nấu thành cháo chín mềm.
  • Khi cháo chín nhừ, bỏ hỗn hợp mực và cà rốt xay nhuyễn vào trộn đều. Rồi cho ít dầu ăn trẻ em vào để bé có thể hấp thụ dinh dưỡng.
  • Nhấc xuông và bỏ thì là đã thái nhỏ vao. Thế là hoàn thành món cháo mực cà rốt đầy đủ dinh dưỡng dành cho bé.

Cháo mực cho bé ăn dặm với đậu xanh và bí đỏ

Nguyên liệu chuẩn bị: Cách chế biến:

  • Gạo đem vo rồi ngâm nước cho mau mềm trước khi nấu
  • Đậu xanh, bí đỏ rửa sạch, tách vỏ, đem hấp chín rồi tán nhuyễn. Hành lá rửa rồi thái nhỏ.
  • Mực làm kỹ sạch tại làm bé ăn. Rửa với muối để tẩy mùi hôi. Rồi đem luộc chín, đem vào máy xay nhuyễn.
  • Đun nồi cháo trắng lên cho chín nhừ rồi bỏ đậu xanh, bí đỏ, mực xây nhuyễn vào khuấy đều. Cho thêm gia vị để phù hơp khẩu vị.
  • Múc cháo ra tô cho hành lá thái nhỏ có sẵn vào là xong, mẹ nên cho bé ăn khi còn nóng.

Cháo mực cho bé ăn dặm với súp lơ xanh

Nguyên liệu chuẩn bị: Cách chế biến:

  • Mực rửa sạch bằng nước muối. Băm nhỏ rồi nêm gia vị ướp với hành tìm, nước mắm, hạt nêm.
  • Cho dầu ăn vào chảo, đun nóng lên rồi bỏ hành tím vào phi thơm.
  • Súp lơ xanh, hành lá rửa sạch rồi băm nhỏ.
  • Rồi cho mực vào xào chín, không xào lâu để mực chảy nước và dai.
  • Gạo sao khi vo sạch. Thì đun lên cho tới thành cháo chín nhừ. Rồi cho mực và súp lơ xanh vào khuấy đều, nêm lại gia vị cho hợp khẩu vị bé.
  • Tiếp tục đun nóng cỡ 10 phút nữa thì nhấc xuống cho thêm ít hành lá vào trộn đều, cho bé ăn khi còn ấm.

Cháo mực cho bé ăn dặm với hành tây

Nguyên liệu chuẩn bị: Cách chế biến:

  • Mực rửa sạch bằng nước muối. Băm nhỏ rồi nêm gia vị ướp với hành tìm, nước mắm, hạt nêm
  • Cà rốt, hành tây gọt rồi rửa sạch, băm nhỏ
  • Hành lá rửa sạch băm nhỏ ra
  • Bắt chảo lên cho dầu vô đun nóng chảo, cho hành tím vào phi thơm sau đó cho mực, hành lá, cà rốt vào xáo chín
  • Gạo vo sạch rồi ngâm với nước khoảng 30 phút. Vớt gạo ra và nấu thành cháo
  • Sau khi cháo chín nhừ thì bỏ các thành phần vừa làm ở trên vào khuấy đều vậy là đã hoàn thành món cháo mực hành tây.

Qua bài viết trên, Vnshop mong rằng đã đem tới cho các mẹ thêm nhiều thông tin hữu ích về món cháo mực cho bé ăn dặm. Xin chân thành cảm ơn các mẹ đã dành thời gian theo dõi bài viết này và hẹn gặp lại các mẹ ở các bài viết tiếp theo.

【#9】Cách Làm Món Thịt Nhím Xào Lăn, Hấp, Nướng…ngon Mà Không Bị Hôi

Cách làm thịt nhím xào lăn, hấp, nướng, nấu giả cầy…ngon mà nhiều người không biết. Cách khử mùi hôi của thịt nhím thế nào để không bị hôi nữa? Cách nhổ lông nhím đơn giản, dễ dàng nhất ai cũng làm được.

Thịt nhím có ưu điểm là nhiều nạc, chắc, thơm, hầu không có mỡ. Nhím có lớp bì dày nhưng giòn nên chế biến kiểu gì cũng ngon. Một số món chế biến từ thịt nhím có thể kể đến như hấp, nướng, xào lăn, hầm, rang muối, nấu giả cầy…

Theo các chuyên gia dinh dưỡng thị thịt nhím có nguồn dinh dưỡng dồi dào. Những ai bị bệnh về đau dạ dày thì thịt nhím chính là vị thuốc hữu hiệu để chữa trị.

Đặc biệt hơn là thịt nhím có khả năng tăng cường sinh lý đàn ông rất hiệu quả, tăng cường chức năng làm việc của hệ tiêu hóa,…

Ngoài thịt ra thì các bộ phận khác của nhím cũng được tận dụng triệt để như lông nhím được dùng làm đồ trang sức, chữa viêm tai giữa. Mật nhím dùng để trị bệnh đau mắt, xoa bóp cơ thể giảm đau nhức,…

Dạ dày nhím là loại dược liệu quý dùng để ngâm rượu thuốc chữa bệnh đau dạ dày, kích thích ăn uống, tiêu hóa tốt. Mật nhím dùng chữa đau mắt, đau lưng và xoa bóp chấn thương. Thịt, ruột già, gan và cả phân nhím dùng chữa bệnh phong nhiệt.

Cắt tiết nhím

Các bạn thực hiện theo các bước sau :

  • Cho nhím vào bao tải để lông nhím xếp lại. Lưu ý khoét một lỗ vừa đủ cho đầu nhím thò ra ngoài.
  • Tiến hành cắt tiết nhím bình thường như những loài động vật khác
  • Nhúng nhím vào nước sôi khoảng 5 phút sau đó nhúng qua nước lạnh
  • Nhổ sạch lông nhím

Cách làm thịt nhím không bị hôi

  • Sau khi làm sạch lông nhím, mang nhím đi thui vàng.
  • Rửa sạch nhím với nước, mổ bụng nhím làm sạch các nội tạng bên trong.
  • Phần thân nhím cho vào nồi nước có thêm rượu và gừng luộc qua. Rượu kết hợp với gừng sẽ giúp khử mùi tanh trên nhím cực hiệu quả.
  • Chỉ cần luộc sơ qua sau đó cho nhím ra ngoài rửa với nước là có thể chế biến.

Thịt nhím làm món gì ngon

Thịt nhím xào lăn

– Lạc rang bỏ vỏ

– Rau răm, hành tím

Thịt nhím hấp

Thịt nhím bỏ vào nồi hấp khoảng 30′ – 45′. Lưu ý nên để nguyên miếng lớn có cả da. Nếu thái ra thì thịt hấp nhanh chín hơn nhưng miếng thịt sẽ ít ngọt hơn.

Nhím nhỏ thì để nguyên thịt với da, lúc chín thái ra miếng thịt sẽ đẹp hơn, nhím lớn thì lọc da hấp riêng.

Khi chín, lấy ra thái miếng xếp lên đĩa có lót rau húng quế, ăn nóng chấm muối chanh ớt.

Đây là món đơn giản nhất nhưng được đánh giá là ngon nhất!

Thịt nhím nấu giả cầy

– Nhím cả con

– Sả, ớt, gừng, riềng, hành tím

– Lạc rang, mẻ chua

– Ngũ vị hương, nước mắm, bột nêm, mật ong.

Nhím sau khi thui mang chặt thành các miếng nhỏ vừa ăn. Sau đó ướp với nước mắm, bột nêm, mật ong, ngũ vị hương, mẻ khoảng 30 phút cho gia vị ngấm đều thịt. Sơ chế riềng, sả, ớt rồi cho vào ướp cùng.

Cho hành tím đã băm nhỏ vào chảo dầu phi thơm rồi đổ thịt nhím vào xào lửa lớn đến khi thịt săn lại. Thịt nhím ngả màu, miếng thịt co lại thì đổ vào nồi, cho khoảng 1 lít nước rồi ninh.

Ninh khoảng 40 phút khi thấy nước nổi váng mỡ, hơi đặc sệt là thịt đã chín. Múc thịt nhím ra đĩa, rắc thêm lạc rang lên bề mặt dùng ăn nóng với bún, cơm trắng hay bánh mì.

Thịt nhím nướng

– Thịt nhím chọn phần bụng

– Sả, chanh, ớt, riềng, tỏi

– Hạt nêm, hạt tiêu, bột canh, mật ong, dầu ăn

– Rau thơm, mắc khén, rượu

Thái thịt nhím đã thui thành miếng vừa ăn. Sau đó mang ướp với mật ong, bột nêm, đường, mắc khén, dầu ăn, sa tế,tỏi vào ướp trong thời gian khoảng 30 phút..

Xếp thịt ra vỉ nướng, đặt trên bếp than hoa vừa nướng vừa quạt, đảo đều tay cho thịt chín đều 2 mặt thì gỡ ra đĩa. Pha nước chấm bằng muối, hạt mặc khén, chanh.

Xương nhím om riềng mẻ

– Xương nhím chặt miếng vừa ăn

– Riềng giã nhỏ, sả đập dập

– Mắm tôm, mẻ, hành, tỏi

– Đướng, mì chính, hạt tiêu, hạt nên, dầu ăn

– Xương nhím ướp với mẻ, mắm tôm, đường, mì chính, hạt nêm trộn đều cho ngấm gia vị.

– Hành, tỏi khô đập dập phi thơm, sau đó cho xương nhím đã tẩm ướp gia vị vào đảo đều cho săn.

– Sau khi đảo xong bắc ra trộn tiếp riềng củ giã nhỏ, sả đập dập, cho một ít nước dùng vào om.

– Để nhỏ lửa, om đủ chín không nên để nhừ quá. Cho lượng nước vừa phải để món ăn có độ sánh.

Ngoài ra còn một số món như thịt nhím hầm măng, nấu rượu mận, nhúng tía tô, hấp gừng…

【#10】Uống Mủ Trôm, Phải Lưu Ý Để Không Gây Hại

1. Công dụng

Theo đông y, mủ trôm có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ khát, nhuận tràng dùng điều trị chứng táo bón. Chất polysaccharide trong mủ trôm còn có tác dụng điều hoà đường huyết, ổn định huyết áp, mát gan, giải độc gan, giúp mau lành vết thương.

2. Cách ngâm:

– Mủ trôm không tan hoàn toàn trong nước nhưng nó sẽ hút nước, trương nở lên, tạo thành một dung dịch có độ nhớt cao.

– Độ nhớt sẽ tăng khi trôm được nghiền với kích thước nhỏ hơn.

– Khi dùng, tốt nhất nên ngâm trong nước lạnh với tỷ lệ trôm thấp (0,5 – 2% trôm)

– Không ngâm mủ trôm với nước nóng cho nhanh nở. Nên ngâm trong khoảng từ 12 – 24 giờ (dạng bột thì 3 – 4 giờ) để nở hoàn toàn rồi mới dùng, nếu không khi uống vào có thể gây… tắc ruột (vì mủ trôm sẽ tiếp tục nở trong bụng bạn)

Hình: mủ trôm đã nở hoàn toàn, có thể uống được

– Không nên đun nấu sôi vì nhiệt độ cao sẽ phá huỷ cấu trúc của các phần tử polysaccharide làm ảnh hưởng đến độ nhớt của trôm gây mất tác dụng. Vì vậy, mủ trôm nấu đường phèn không phải là thức uống tốt.

3. Liều lượng:

– Ngoài công dụng giải khát, mủ trôm cũng được xem là vị thuốc, vì vậy khi dùng cần chú ý liều lượng.

– Sử dụng bừa bãi mủ trôm như các dạng thức uống khác rất nguy hiểm.

– Không có chỉ dẫn cụ thể cho từng đối tượng mà tuỳ đặc điểm của người dùng như tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, bệnh lý hoặc cơ địa.

Nếu dùng để nhuận tràng: mỗi ngày chỉ nên dùng 0,5 – 1g bột ngâm trong 200ml nước lọc, nếu dạng thô thì chỉ lấy một thỏi bằng 1/2 lóng tay, rửa sạch rồi ngâm vào 200ml nước để từ tối đến sáng hôm sau mới dùng.

– Có nhiều bài báo hướng dẫn dùng từ 100 – 150g mủ trôm trong một ngày mà chỉ pha trong 300 – 500ml nước thì rất nguy hiểm, vì lượng nước quá ít không đủ để mủ trôm trương nở dễ gây tắc ruột và tử vong. Liều lượng 100 – 150g trong ngày là quá cao dễ bị ngộ độc.

4. Những trường hợp không nên dùng mủ trôm

– Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

– Người có khối u trong ruột.

– Người đang uống thuốc chữa bệnh, vì mủ trôm có độ nhớt cao sẽ làm tăng nồng độ hấp thu của thuốc vào máu khi uống mủ trôm cùng lúc với một loại thuốc chữa bệnh nào đó. Sự tăng hấp thu này có thể gây ngộ độc thuốc. Để ngăn ngừa, tốt nhất nên uống mủ trôm ít nhất một giờ sau khi uống thuốc.

– Người hư hàn, hay lạnh bụng không nên dùng nhiều.

Chú ý:

– Khi dùng mủ trôm, phải tìm mua loại có nguồn gốc rõ ràng, tránh mua nhầm các loại giả mạo có thể gây nguy hiểm cho tính mạng.

– Hiện nay nhiều người còn đồn thổi mủ trôm giúp giảm cân, chống béo phì, đây là một quan niệm không đúng. Thực ra mủ trôm chỉ góp phần cải thiện mỡ trong máu, do uống nhiều nước làm tăng cảm giác no và điều tiết lượng đường trong máu ở người thừa cân, béo phì hoặc đái tháo đường.

Theo DS Lê Kim Phụng (Thế giới Tiếp thị)

http://www.webtretho.com/forum/f216/cach-lam-banh-mi-que-bo-duong-cuc-don-gian-ma-an-ngon-khong-dung-duoc-2025769/

http://www.webtretho.com/forum/f216/4-mon-an-vat-ngon-lanh-ma-vo-cung-de-lam-2036697/

http://www.webtretho.com/forum/f216/tu-lam-muoi-me-ngon-bo-re-1916207/

http://www.webtretho.com/forum/f2402/9-luu-y-quan-trong-khi-su-dung-may-hut-bui-cho-cac-me-dam-dang-2029371/

http://www.webtretho.com/forum/f112/16-y-tuong-ve-ke-sach-doc-dao-cho-ngoi-nha-cua-ban-1881980/

http://www.webtretho.com/forum/f2402/cach-tay-trang-co-ao-nach-ao-o-vang-cuc-nhanh-va-hieu-qua-2097800/

http://www.webtretho.com/forum/f2402/5-hieu-lam-ve-sac-pin-dien-thoai-1912176/