Top 13 # Xem Nhiều Nhất Cách Chế Biến Trái Si Rô / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Ctc-vn.com

Trái Si Rô Có Công Dụng Gì? / 2023

Thỉnh thoảng đi trên đường, ta ngạc nhiên khi gặp một loài cây cao khoảng 2-3 m, tán tròn, lá xanh đậm, điểm tô lấm chấm trái sắc đỏ được trồng làm cảnh hoặc hàng rào, đó là cây si rô.

Trái si rô là trái gì?  

Si rô là một loài cây rừng, hiện được mang về làm cây si rô kiểng và hái trái. Cây si rô (tên khoa học Carissa carandas) có nguồn gốc ở Ấn Độ, Indonesia. Cây mọc trải dài ở các nước cận nhiệt đới và nhiệt đới vùng Nam Á như: Afghanistan, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka… Cây cũng được phát hiện ở miền Nam Việt Nam. 

Có lẽ từ cách người dân thường dùng trái si rô chín nấu với nước đường để làm nước si rô trái cây, nên cây có tên si rô.

Cây si rô ra hoa kết trái quanh năm, nhưng hoa nhiều nhất vào mùa xuân, kết trái rồi chín rộ vào mùa hè. Trái sum sê, mọc từng chùm. Trái tròn hình trứng, căng mọng rất đẹp, đường kính khoảng 1-2 cm, dài khoảng 1,5-2 cm. 

Khi chưa chín trái si rô có màu xanh, sắp chín màu trắng, chín thì đỏ rồi tím đậm, có mùi thơm nhẹ. Trái hái xuống có thể lưu trữ được 3-4 ngày.

Trái si rô có công dụng gì?

Tất cả các bộ phận của cây si rô: lá, hoa, trái, hột, thân, rễ đều được dùng làm thuốc; với nhiều thành phần dinh dưỡng. Trong 100 g trái si rô có 42,5 kcal năng lượng, Canxi 21 mg, Photpho 28 mg, Vitamin A 1619 IU, Vitamin C 9-11 mg.

Riêng về thành phần hóa học, cho đến nay có 14 hợp chất đã được phân lập từ rễ, 40 hợp chất từ ​​trái và 19 hợp chất từ ​​lá. Các hợp chất này bao gồm phenolic, alkaloids, sterol, terpenoid, axit đơn giản, ester đơn giản, sesquiterpen, carboxylate, axit amin, glucose và galactose, sterol glycoside, phenolic lignin.

Nhờ những hoạt chất này nên trái si rô (kể cả trái xanh và trái chín) thường được dùng như thực phẩm. Trong khi nó có nhiều tính năng trị liệu quý báu mà ta lại không biết đến.

Trái xanh:Có vị chua. Thường được thay chanh để dầm nước mắm, hoặc trộn gỏi. Ở Ấn Độ,trái si rô được làm thành dưa chua.

Trái chín: Có vị chua ngọt, nấu với nước đường thành si rô có màu đỏ, mùi thơm, vị chua chua ngọt ngọt rất thích hợp để giải khát trong mùa nắng nóng. Trái chín cũng có thể ngâm rượu thành rượu sirô, làm mứt…

Riêng về làm thuốc thì ở Việt Nam, các sách dược liệu chưa đề cập nhiều về dược tính của cây si rô, có thể là do ít gặp, nên chỉ dùng theo kinh nghiệm dân gian để giải nhiệt, trị các bệnh do thiếu vitamin C, lợi sữa.

Ở Ấn Độ, các thầy lang đã sử dụng cây si rô làm thuốc cả ngàn năm qua. Riêng công dụng của trái si rô thì y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda có đề cập đến:

Trái xanh trị chứng đa tiết mật - tình trạng rối loạn của gan gây táo bón, nhức đầu, chán ăn và nôn mật. Dùng 2 trái (khoảng 4 g) mỗi ngày 1 lần.

Tiêu chảy: Dùng 1 trái.

Khát nước quá mức: Dùng 1 trái.

Trái chín trị chảy máu trong: Ăn 5 trái, mỗi ngày 1 lần.

Chảy máu nướu răng: Ăn 1-2 trái thường xuyên.

Chán ăn: Ăn trái si rô sẽ kích thích thèm ăn (có thể ép lấy nước uống khoảng 1 muỗng canh).

Rối loạn da: Giã đắp trị chàm, ngứa và một số bệnh da khác.

Sức khỏe tâm thần: Dùng trái si rô thường xuyên rất có lợi cho sức khỏe tâm thần.

Bổ tim: Dùng 1 muỗng canh nước ép trái cây tươi.

Tác dụng dược lý

Trên phương diện khoa học, thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dược lý cho thấy trái si rô có nhiều tính năng tuyệt vời:

Tăng sức chịu đựng cơ thể: Hoạt chất Axit lanost-5-en-3β-ol-21-oic (lanostane triterpenoid) trong trái si rô làm tăng sức chịu đựng khi bơi, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi thiếu oxy trong mô. 

Trị sốt rét: Thử nghiệm cho thấy chiết xuất trái si rô chống lại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum, mở ra triển vọng một cây thuốc có khả năng trị sốt rét đầy hứa hẹn.

Chống ung thư: Chiết xuất của trái si rô cho thấy khả năng chống ung thư phổi và ung thư biểu mô buồng trứng ở người. 

Kháng vi-rút: Thử nghiệm cho thấy dịch chiết của trái si rô có tác dụng kháng vi-rút bại liệt HIV-1 và vi-rút herpes simplex

Chống táo bón và chống tiêu chảy: Chiết xuất trái si rô có tác dụng kích thích ruột gây tiêu chảy thông qua việc kích hoạt các thụ thể muscarinic và histaminergic; ngược lại, nó gây co thắt làm táo bón thông qua chất đối kháng Ca++.

Chống nôn: Thực nghiệm cũng xác nhận khả năng chống nôn của dịch chiết trái si rô.

Trị giun sán: Chiết xuất từ trái si rô còn xanh có tác dụng làm tê liệt rồi gây chết giun đất sau một thời gian.

Ai không nên ăn trái si rô?

Trái vừa hái xuống có mủ trắng gây kích ứng da, nên không được ăn ngay mà phải rửa qua cho hết mủ.

Không tốt cho người đau dạ dày vì trái xanh rất chua, còn trái chín không ngọt hẳn mà cũng vừa chua vừa ngọt.

Trái chín thì cầm máu, trong khi trái xanh lại tăng xuất huyết nên người mắc bệnh này không ăn trái si rô.

         

Bác sĩ CK2 Hoàng Thanh Hiền

        Khoa Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Quận 11 chúng tôi

Công Nghệ 10 Bài 45: Thực Hành Chế Biến Si Rô Từ Quả / 2023

Lý thuyết, trắc nghiệm môn Công nghệ 10

Chúng tôi xin giới thiệu bài được VnDoc sưu tầm và tổng hợp nhằm giúp các bạn học sinh cùng quý thầy cô tham khảo để giảng dạy và học tập môn Lý thuyết môn Công nghệ lớp 10: Thực hành chế biến si rô từ quả Công nghệ 10 hiệu quả hơn.

Lưu ý: Nếu bạn muốn Tải bài viết này về máy tính hoặc điện thoại, vui lòng kéo xuống cuối bài viết

Bài: Thực hành chế biến si rô từ quả

A/ Lý thuyết Công nghệ 10 bài 45

– Trái cây đến độ thu hoạch, tươi ngon, không sâu bệnh 1kg (Nho, dâu, thơm, sơri, sấu, mơ…)

– Đường kính trắng (hoặc vàng): 0.5 – 1kg

– Keo, hũ nhựa hoặc lọ thủy tinh có nắp đậy:

– Quả làm siro:

+ Chọn loại quả tùy mùa thu hoạch hoặc theo sở thích (Nho, dâu, thơm, sơri, sấu, xoài mơ…)

+ Quả phải đến độ thu hoạch, tươi ngon, không sâu bệnh, không dập nát.

+ Đường trắng hoặc vàng: 0.5 – 1kg cho 1 kg quả

– Để siro đậm đà có thể cho thêm chút muối ăn, tùy khẩu vị người sử dụng có thể thay đổi lượng đường

– Lọ thủy tinh hoặc keo hũ nhựa có nắp đậy rửa sạch, lau khô.

– Bước 1:

+ Quả tươi ngon được lựa chọn cẩn thận, loại bỏ những quả bị dập, bị sâu bệnh. bỏ cuống, Rửa sạch quả và để ráo nước.

+ Một số quả cần sơ chế hoặc gọt vỏ, xắt lát (thơm, xoài, sấu…)

– Bước 2:

+ Xếp vào lọ thủy tinh, cứ 1 lớp quả 1 lớp đường,

+ Chú ý dành 1 phần đường phủ kín lớp quả trên cùng nhằm hạn chế sự lây nhiễm của vi sinh vật. Sau đó đậy lọ thật kín

– Bước 3:

+ Sau 20 – 30 ngày nước quả được chiết ra tạo thành sirô.

+ Gạn dịch chiết vào lọ thủy tinh sạch khác để tiện sử dụng.

– Bước 1: Mở hộp sữa đặc đổ vào hộp.

– Bước 2: Hòa thêm vào 3 – 4 lon nước (½ là nước sôi, ½ là nước đun sôi để nguội, dùng ngay lon đựng sữa vừa dùng để đong nước), khuấy đều. Dung dịch sữa này có nhiệt độ khoảng 40 – 50 o C là tốt nhất.

– Bước 3: Hòa đều hộp sữa chua mồi với dung dịch sữa đã pha nói trên.

– Bước 4: Rót sữa đã chuẩn bị ở trên vào cốc thủy tinh hay các dụng cụ chứa khác (30 – 50 ml), đậy nắp kín.

– Bước 5: Ủ ấm hoặc phơi nắng.

Như tên tiêu đề của bài Thực hành chế biến si rô từ quả, sau khi học xong bài này các em cần nắm vững các nội dung trọng tâm sau:

– Biết cách làm và làm được sirô từ một số loại quả.

– Làm được sữa chua hoặc sữa đậu nành (đậu tương)

– Có ý thức kỉ luật, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo đảm an toàn lao động.

B/ Trắc nghiệm Công nghệ 10 bài 45

Câu 1: Cần để quả trong lọ kín thời gian bao lâu để tạo thành siro?

Câu 2: Bước đầu tiên trong quy trình làm sirô người ta thường làm gì?

Lựa chọn cẩn thận các quả tươi ngon

Loại bỏ những quả bị dập, bị sâu bệnh

Rửa sạch quả và để ráo nước.

Đáp án A, B, C đều đúng

Câu 3: 1 kg quả làm siro cần lượng đường tương ứng bao nhiêu?

Câu 4: Khi chế biến sirô từ quả chanh cần lưu ý những điều gì?

Chanh đào sau khi mua về nên chế biến ngay

Cần giữ khoảng cách với nắp cho chanh có không khí để lên men

Dùng vỉ, que tre gài lên miệng lọ để tránh việc chanh nổi lên và bị thối hỏng

Tất cả đều đúng

Canh Chua Trái Giác Nấu Cá Rô Đồng / 2023

Nói đến món ăn thường ngày của người dân miền Tây nhiều người sẽ cho rằng canh chua là phổ biến nhất, vị chua cho nồi canh của người dân xứ sở này được tạo từ cây trái đồng quê, hàng chục loại để làm vị chua từ lá me, lá giang, lá dấm. Cùng với các loại trái như: trái bần, trái khế, chùm ruột…Nhưng có lẽ vị chua của trái giác khiến nhiều người nhớ đến bởi nó vừa dân dã, vừa dễ tìm mà cái vị chua nhẹ nhàng thanh khiết của trái giác không lẫn với vị chua nào khác…

Sau mưa cũng là mùa mà dây giác sinh sôi rất nhiều ở những cụm rừng chồi và chúng leo tòn ten như những giàn nho. Vị của trái giác cũng phụ thuộc vào độ trưởng thành mà có vị chua thanh hay là chua giòn ngọt. Sau mưa cũng là mùa giăng lưới, cắm câu, đặt trúm, lúc này thì những con cá đồng hay những chú lươn bắt đầu mập mạp và thơm ngon nhất trong năm. ” Mùa nào thức nấy ” đó là cách nói rất chân chất của người dân miền Tây và cũng là nét đặc trưng trong phong cách ẩm thực của người dân vùng đất này.

U Minh là vùng quê nổi tiếng dân dã ở Cà Mau, không chỉ vì nơi đây được khai phá muộn hơn những địa phương khác trong tỉnh rồi nhiều sông lắm rừng mà chất dân dã còn hiện ở nếp sinh hoạt thôn quê bình dị ở những sản vật, những món ăn đậm đà chất đất rừng U Minh, xa rồi nhớ mãi ! Canh chua trái giác nấu cá rô đồng là 1 trong số những món ngon được chế biến ngay từ những sản vật đặc trưng của vùng đất rừng U Minh và rất được người dân nơi đây ưa chuộng. Người ta nói độ chua trái giác theo độ trưởng thành của trái, khi chua chát, khi chua thanh, lại khi chua giòn ngọt. Có người thích nấu trái còn xanh, người lựa trái chín để nồi canh nồi kho có màu tim tím phơng phớt. Người có kinh nghiệm chế biến ít khi chọn trái giác chín bởi nó tạo màu nước tím đen không đẹp mắt, họ chỉ hái những trái già hoặc vỏ hơi hườm hườm hái nhiều chùm về rồi lặt từng trái một rửa sạch. Cá rô cũng làm sạch để ráo, rau dùng để nấu canh chua thường là những ngọn rau muống đồng mọc hoang ngoài bờ ruộng hay bông súng dưới ao nhà. Chế biến món ăn này không khó,rất dễ tìm nguồn nguyên liệu gần giũ đúng như chất dân dã bình dị của nó. Sau những chiều mưa ở những khu vực bìa rừng U Minh dây giác quấn ngang dọc quanh những cây tràm, cây chuối trở nên tươi tốt, lá cụp xuống 1 phần vì mưa để lộ những chùm trái căng bóng xanh ngắt rất ấn tượng. Người ta chỉ việc dùng tay hái từng chùm xanh ấy mang về.

Theo nhiều người dân thì canh chua trái giác nấu cá rô đồng là ngon nhất bởi vị chua dịu của trái giác hòa với vị thơm ngọt từ thịt cá tạo ra 1 hương vị rất đặc biệt mà hễ ai ăn 1 lần là nhớ mãi. Ngày trước cá rô đồng vùng đất rừng U Minh không khó bắt, 1 đưa trẻ chỉ cần dùng cần câu câu trong 30 phút có thể bắt được tầm nữa ký cá là chuyện bình thường. Ngoài câu cá người ta còn có nhiều cách bắt như chày lưới ở các con kênh trong khu vực rừng hay ở những ao đìa vũng nước rộng trong mãnh ruộng của mình. Chuẩn bị xong bắt nồi nước lên nấu cho khi trái mềm rịu rã thì lược lấy trái ra ngoài tô, sau đó cho 1 ít nước sôi vào tô dằm vừa tay cho trái giác nhuyễn từ từ, cho thêm 1 ít nước sôi nữa vào phần đã dằm lọc lấy nước trút lại nồi canh đang nấu. Lược nước chua xong là cho cá rô vào nồi, trong lúc này người ta sẽ nêm nếm cho nồi canh vừa ăn với các gia vị ớt, bột ngọt, nước mắm và ít đường. Đợi cá vừa chín tới là cho bông súng vào là nhấc nồi xuống để cọng bông súng được giòn và ngọt. Rau ngò om được rửa sạch và cắt nhỏ cho vào nồi canh sau cùng để mùi thơm của rau dậy hơn.

Vậy là có nồi canh chua ngon như ý !

​Các Món Ăn Chế Biến Từ Trái Vả / 2023

Cây vả cùng họ với cây sung. Cây vả được trồng nhiều ở tỉnh Thừa Thiên-Huế và là món ăn dân dã của người dân Huế.

Quả vả khi còn non có vỏ màu xanh, lông mịn. Bên trong quả có lớp cơm màu trắng – đó là phần được dùng để chế biến thức ăn. Ở Huế, vả được chế biến thành nhiều món ngon như: vả trộn hến, vả trộn tôm xúc bánh đa, những món ngon dân dã này được nhiều du khách ưa chuộng.

Ở Huế, vả được trồng nhiều ở trong khu vực các ngôi chùa, các nhà miệt vườn Kim Long, Nguyệt Biều…

Cây vả dễ trồng, ít cần phân bón và công chăm sóc. Gốc vả rất lớn, cành tỏa rộng che bóng mát cả một khoảng vườn. Lá vả to như lá sen, tán rộng. Trái vả mọc theo thân, cành cây, mọc thành từng chùm, mỗi chùm có hơn cả chục trái xanh tươi, mỗi trái lớn bằng nắm tay, trái vả tròn dẹt, vỏ màu xanh lục có lông tơ mịn màng. Quả vả mọc thành chùm trên những cành già hoặc ở gốc thân, trên những nhánh riêng không có lá.

Mùa vả kéo dài từ tháng 12 năm trước tới tháng 7 năm sau. Các thời gian khác trong năm cây vẫn cho trái rải rác.

Món vả trộn được xem là một trong những đặc sản quý của Huế. Để chế biến các món ăn từ trái vả, người chế biến chọn những trái không quá già, dầm với nước pha một ít muối, vài giọt chanh cho bớt vị chát. Sau đó khứa trái vả từng lát mỏng theo hình tròn. Vào ngày Tết, ở Huế ngoài những món sang trọng như nem, chả, tré… còn có những món ăn dân dã như vả hầm sườn non hoặc giò lợn hoặc sườn là món ăn lợi sữa cho phụ nữ.

Để ăn vả trộn ngon, người dùng không cần đũa, chén mà thường bẻ bánh tráng nướng xúc. Cầm miếng bánh tráng mè đã nướng vàng, giòn để xúc vả trộn, cho vào miệng, thực khách sẽ cảm nhận được hương vị là lạ vừa mặn vừa ngọt, béo bùi… Vị bùi ngọt thơm của vả trộn, bánh tráng, gia vị ở đầu lưỡi tạo nên sức hấp dẫn riêng đối với thực khách. Từ một món ăn dân dã, trái vả đã chinh phục được sở thích của nhiều người và đã tạo được phong vị riêng cho đất Huế.

Theo đông y, quả vả có vị ngọt, có thể chữa được bệnh táo bón, kiết lỵ, trĩ, điều hòa ruột, lợi tiểu, tốt cho những người ăn kiêng vì nhiều chất xơ và ít năng lượng (100 gam vả khô cho 250kcal).

Không chỉ chế biến trái vả thành một đặc sản ẩm thực với nhiều món ăn hấp dẫn du khách, ở Huế còn có một số cơ sở chế biến quả vả thành loại trà độc đáo, đó là trà vả. Trà vả không dùng hương liệu, phụ gia, chất bảo quản (có thể uống kèm với đường phèn, đường cát). Nhiều món ăn được chế biến từ trái vả đã trở thành đặc sản ẩm thực đất cố đô.