【#1】Cá Ninja Giá Bao Nhiêu? Cá Ninja Làm Gì Ngon? Cách Chế Biến Cá Mút Đá

Nghe đến cái tên cá ninja, ngay cả người sành ăn cũng vô cùng ngạc nhiên. Nhưng hương vị của loài cá này lại đem đến sự bất ngờ lớn hơn nữa. Cá ninja được biết đến như món ăn thời thượng ở một số vùng biển thuộc Nam Trung Bộ.

Về tên gọi cá Ninja, ngư dân giải thích, là do nó thoắt ẩn thoắt hiện trong dòng nước. Thêm vào đó, phần da màu đen trùm kín từ đầu đến đuôi khiến con cá giống với những ninja mặc áo đen trong phim ảnh. Ngoài ra, nó còn có tên gọi khác là cá “giấu đầu lòi đuôi”, bởi khi bắt lên nó thường cuộn đầu như giấu đi.

Cá ninja có thể chế biến thành nhiều món, như lẩu, ca- ri, chiên bột… nhưng ngon và hợp “gu” với thực khách nhất vẫn là hai món om bắp chuối và nướng. Cá ninja sau khi làm sạch thì xắt từng miếng chừng 3 ngón tay, ướp gia vị rồi nướng trên than hồng. Món này mà ăn trong ngày trời se lạnh, nhâm nhi với rượu thì không còn gì sánh bằng. Do cá ninja không có xương sống mà chỉ là lõi sụn trắng nên khi nhai nghe sừn sựt như sườn non, còn miếng thịt cá ngọt, thơm, dai như thịt gà.Với món ninja om, rau độn không thể thiếu bắp chuối, thơm, cà, rau mùi, lá lốp, rau răm, ngổ. Hương thơm thịt con cá quyện với rau độn, cộng vị cay của ớt tạo thành món ăn rất đặc biệt. Nếu ăn món này với bánh tráng, nhâm nhi với rượu Bàu Đá thì bất kỳ thực khách nào cũng phải tấm tắc khen

1, Giới thiệu cá ninja (cá mút đá)

(tổng hợp từ internet và Wikipedia) Cá ninja và chế biến món ăn

Tổng hợp hình ảnh cá ninja

Bí ẩn cá Ninja

Giải thích về cái tên cá Ninja độc đáo, người ngư dân Nam Trung Bộ giải thích là do nó thoắt ẩn thoắt hiện trong dòng nước. Thêm vào đó, phần da màu đen trùm kín từ đầu đến đuôi khiến con cá giống với những Ninja mặc áo đen trong phim ảnh. Ngoài ra, cá Ninja còn có tên gọi khác là cá “giấu đầu hở đuôi”, bởi khi bắt lên nó thường cuộn đầu như giấu đi.

Do cá Ninja không có xương sống mà chỉ có lõi sụn trắng nên khi nhai nghe sần sật như sườn non, còn miếng thịt cá ngọt, thơm, dai dai vô cùng hấp dẫn.

Cá Ninja là tên gọi của một loài cá mới đang là trào lưu thịnh hành ở Việt Nam. Cá Ninja (được gọi chủ yếu ở miền Nam), còn được gọi là Cá Mút Đá( miền Bắc) và cá Giấu Đầu Lòi Đuôi (miền Trung). Trong tiếng anh, Cá Ninja còn gọi là Hagfish.

Cá Ninja nhìn bề ngoài thường bị tưởng nhầm là thuộc họ cá chình. Tuy nhiên theo các nhà khoa học, chúng thậm chí không có quan hệ gì với họ nhà chình. Cá Ninja là loài cá lâu đời đã tồn tại hơn 300 triệu năm. Có nghĩa là chúng đã “già” khi loài khủng long biến mất trên thế giới. Hầu như chúng vẫn giữ được những đặc tính sinh học cho đến tận ngày nay.

Cá Ninja là loài cá có da trơn, trung bình nặng từ 300-500g/ con, dài khoảng 40 cm. Đầu Cá giống lươn, có ria ngắn. Chúng là loài động vật rất kỳ lạ, có một hộp sọ, hai não. Đây là loại cá không hàm , không xương sống, chỉ có sụn mềm chạy ở giữa thân. Chúng bị mù và thường ăn vào ban đêm.

Cá ninja sống ở đâu?

Cá ninja ( cá mút đá) là loại động vật sống dưới biển, được tìm thấy ở bờ biển Đại Tây Dương của châu Âu và Bắc Mỹ, ở phía tây Địa Trung Hải, và Ngũ Đại Hồ. Tại Việt Nam, cá ninja sinh sống ở ven bờ biển, trong các rạn san hô hoặc vùng đá ngầm vùng biển miền Trung, và miền Nam. Cá mút đá thường sống ký sinh trên nhiều loại cá, chúng dùng hàm miệng bám chặt vào những con cá lớn hơn hút máu và chất dinh dưỡng.

Có nhiều nhầm lẫn về về cá ninja sống ở đâu. Nhiều người mới đầu nghĩ rằng cá ninja sống ở sông, vùng nước ngọt như ao hồ… nhưng thực chất cá ninja (mút đá) là loài cá thuần biển. Không như cá hồi sống ở biển và cửa sông, ở sông, cá ninja sống ở vùng biển sâu, trong các rạn san hô, hay ở vùng san hô có đáy biển là cát trắng thường bám chặt trên vùng da các loại cá lớn hơn để hút máu.

Cách đánh bắt cá ninja (cá mút đá) như thế nào?

Theo giải thích của ngư dân Quảng Ngãi, do mắt, mũi của loài cá Ninja này nhỏ bé như thể được trùm kín giống nhân vật Ninja trong các bộ phim của Nhật Bản nên bà con ngư dân đã đặt cho chúng cái tên như vậy. Ngoài ra, nó còn có tên gọi khác là cá “Giấu đầu lò đuôi”, bởi khi bắt lên nó thường thụt, cuộn đầu như giấu đi.

Cá Ninja sống ở tầng đáy ngoài khơi trong khoảng độ sâu từ 500-700m so với mặt nước biển. Hình dáng của nó giống như cá chình, chiều dài từ 30-50cm, đường kính thân khoảng 4cm, đầu giống cá chạch nước ngọt còn đuôi to bè ra như đuôi hải cẩu, thân phủ đầy chất nhờn. Tùy theo từng loài, mà cá Ninja có màu sắc khác nhau, như hồng, xanh, xám…

Để bắt cá Ninja, ngoài sử dụng lưới, câu…, thời gian gần đây ngư dân Quảng Ngãi còn dùng thùng phi nhựa, đục lỗ xung quanh làm lờ thả xuống biển nhử cá chui vào để bắt.

“Vị trí đánh bắt cá Ninja thường cách bờ khoảng 100 hải lý, với số lượng lờ thả nhử từ 300-500 cái/tàu, thuyền. Thời gian thả lờ khoảng 2 lần/ngày, với mỗi lần thả khoảng 4 giờ thì kéo lên. Trung bình số lượng cá Ninja bắt được dao động từ 5-20 kg/lờ/lần. Mỗi chuyến ra khơi khai thác trung bình 10 ngày/chuyến, với số lượng cá Ninja bắt được từ 2-4 tấn/tàu.

Giá cá sống được mua khoảng 300.000 đồng/kg, trong khi đó nếu cá chết thì chỉ được mua khoảng 20.000 đồng/kg. Vì vậy sau khi đánh bắt lên, ngư dân đổ cá vào hầm kín và đổ nước vào, sau đó dùng máy sục oxy, đá lạnh…để giữ cho cá sống.

Giá trị dinh dưỡng của Cá Ninja ( Cá Mút Đá )

  • Cá Ninja có tác dụng bồi bổ dương khí, tốt cho khí lực. Với người Hàn quốc, cá Ninja là món ăn có hiệu quả đặc biệt trong giải rượu và tăng cường sức khỏe.
  • Theo sách y học thời Minh Mạng, Cá Ninja còn có tác dụng đối với người bị đau đầu, chảy máu dạ dày, thể chất kém, huyết trắng, có tác dụng làm đẹp da.
  • Vitamin E – Dinh dưỡng tiêu biểu của Cá Ninja , có nhiều hơn 200 lần so với thịt bò.
  • Vitamin A có nhiều hơn 6 lần so với các loại thịt cá thông thường. Vì vậy cá còn tốt cho người loãng xương và trẻ em, người sức khỏe kém, đêm ngủ hay đổ mồ hôi trộm.

Giá cá ninja bao nhiêu 1 kg? Cá ninja giá sỉ và lẻ bao nhiêu?

Cá ninja (cá mút đá) được bán trên thị trường giao động từ 200,000đ-300,000đ. Giá cá ninja phu thụ rất nhiều vào mùa cá ít hay nhiêu, lượng cá cung cấp cho nhu cầu cho các nhà hàng quán ăn, quán nhậu tại các thành phố lớn.

TpHCM, Đà Nẵng, Hà Nội là các thị trường tiêu thị cá ninja (mút đá) cao nhất cả nước. Giá cá ninja 1kg ở Hà Nội, TpHCM, Đã Nẵng có sự chênh leejnch nhưng không quá lớn, mức giá sẽ phụ thuộc rất nhiều nguồn cung và nhu cầu ăn uống của mọi người.

Giá cá ninja được Minh Huy Foods bán tại TpHCM với giá chỉ 200,000đ 1kg giá lẻ. Với giá sỉ sẽ còn thấp hơn nhiều khi mua số lượng lớn. Ở một số thời điểm giá sỉ cá ninja được giảm đến 50% chỉ còn 100,000đ 1kg. Khách hàng có nhu cầu mua cá ninja sỉ lẻ vui lòng liên hệ trực tiếp phòng kinh doanh của MinhHuy Foods…

Mua cá ninja giá rẻ ở đâu tpHCM? Địa chỉ uy tín bán cá ninja?

MinhHuy Foods chuyên cung cấp cá ninja giá rẻ , đông lạnh tại nhiều vũng tỉnh thành trên cả nước, chủ yếu ở miền Nam, TpHCM và các tỉnh lân cận khác

Khách hàng có thể mua cá ninja tại TpHCM ở địa chỉ: 110/20/3 Bà Home, P13, Q 6, HCM, hotline: 0336316194. Cá ninja giá sỉ được MinhHuy Foods đóng gói hút chân không, đóng gói theo thùng từ 10-20kg giao hàng tận nơi cho khách hàng.

  • Sả phẩm đạt tiêu chuẩn ATVSTP do bộ quy định
  • Được đóng gói hút chân không và bảo quản cẩn thận
  • Với khách hàng sỉ mua số lượng lớn sẽ được giao hàng tận nơi bằng các phương tiện vận tải đông lạnh chuyên dụng.

Cá ninja làm gì ngon, một số món ăn ngon chế biến từ cá ninja tham khảo

Nhiều chị, nhiều mẹ nội trợ nhiều khi lần đầu nghe nói tới cá ninja do loại cá khá hiếm có hình dạng kỳ dị lại sống ở vùng biển sâu, nên cũng không biết chế biến món ăn gì cho ngon. Cá ninja có tên thông thường khác là cá mút đá, đặc sản này rất được ưa chuộng trong các nhà hàng, quán nhậu. Cách chế biến cá mút đá hấp dẫn, đơn giản và thường được sử dụng nhiều nhất đó là: nướng và các biến tấu gồm nướng sả ớt, nướng muối ớt, nướng sa tế… Với món nướng cá mút đá hương vị sẽ trọn vẹn nếu dùng nóng được tẩm gia vị tỏi ớt thơm phức. Ngoài món nướng ngon ngậy ra có thể xào với rau củ, rau thơm như hành tây, thơm, chuối, xào lăn, chiên giòn hoặc ăn cá ninja với cách chế biến như món lẩu điều rất hấp dẫn và khó cưỡng.

Trước khi chế biến cần sơ chế và khử mùi tanh của cá

Vì là cá biển nên có vị đặc trưng là hơi đặm và tanh của cá. Nên khi chế biến chúng ta không nên tẩm ướp nhiều muối mà chỉ khử tanh trước khi làm.

Một số mẹo khử mùi tanh của cá như sau:

– Làm bớt tanh bằng bốc hơi và nhiệt độ:

Khi sơ chế các loại cá, dùng một ít nước nóng đổ vào con cá rồi cạo sạch nhớt. Đảm bảo cá rất sạch mà không còn mùi tanh.

– Làm bớt tanh bằng ngâm, rửa:

Cá trước khi đem chế biến cần rửa kỹ 2- 3 lần hoặc có thể ngâm vào nước vo gạo khoảng 10-15 phút sau đó rửa lại, hoặc rửa bằng nước muối, để ráo nước trước khi đun nấu.

– Làm bớt tanh bằng gia vị:

Mỗi gia vị có những mùi thơm đặc trưng khác nhau như hành, rau răm, thì là, ớt, gừng, riềng, nghệ, ngổ… là những gia vị hay được dùng khi chế biến các món ăn từ cá.

– Làm bớt tanh bằng chất chát (tanin):

Các thứ lá như lá chè, lá ổi, lá cúc tần, lá găng, nước chè đặc hay chuối xanh thái lát là những thứ thường được dùng để tẩm ướp với các loại cá khi chế biến, tùy theo từng vùng, từng địa phương.

– Làm bớt tanh bằng rượu (alcol ethylic):

Rượu có khả năng hòa tan được các chất amin gây mùi tanh, sau đó dưới tác dụng của nhiệt độ khi đun nấu, rượu sẽ bay hơi làm các chất tanh cũng bay theo.

– Ngoài ra ta có thể khử tanh bằng chất chua như: chanh , dấm , phèn, mẻ… và không nên ngâm lâu.

Giới thiệu món ăn và hướng dẫn cách chế biến cá ninja (cá mút đá)

a, Cá ninja nướng muối ớt

Nguyên liệu:

-600g cá mút đá (cá ninja).

-4 trái ớt sừng không cay và 3 – 5 quả ớt hiểm đỏ.

-Tỏi xay, dầu điều, ớt bột.

-Nước mắm, đường, muối và hạt nêm.

Cách làm:

Đầu tiên ta cần sơ chế nguyên liệu, ớt sừng và ớt hiểm cắt dọc và loại bỏ hạt, sau khi bỏ hạt thì cắt nhỏ. Cá mút đá cắt khúc nhỏ vừa ăn.

– Bỏ 2 loại ớt vào máy xay cùng với: 2 muỗng canh tỏi xay, 2 muỗng canh dầu điều, 2 muỗng canh nước mắm, 1 muỗng cafe muối, 1 muỗng canh đường, 1 muỗng hạt nêm và 1 muỗng canh ớt bột. Sau đó xay nhuyễn thành hỗn hợp để tạo thành nước sốt.

– Cho cá mút đá vào tô, tùy theo khẩu vị từng người mà chúng ta sẽ trộn vừa đủ với nước sốt muối ớt để không quá cay khi ăn. Ướp khoảng 5 – 10 phút là có thể đem nướng được rồi đấy.

b, Cá ninja um (ôm) chuối đậu

Cá mút đá (cá ninja) om chuối đậu là món ăn bổ dưỡng và hương vị cũng vô cùng tuyệt vời. Để thực hiện thành công món ăn này, các bạn hãy chuẩn bị những nguyên liệu:

– Cá mút đá chế biến sẵn

– Đậu phụ, chuối xanh, mè, nghệ, hành tím.

– Mẻ.

– Các loại rau như hành lá, tía tô, thì là.

– Các loại gia vị thông thường như nước mắm, muối, đường, hạt nêm.

Cách làm cá ninja ôm chuối:

– Cá mút đá sau khi làm sạch, cắt khúc vừa ăn thì cho gia vị là nghệ, tiêu, hành tím băm, nước mắt, đường, hạt nêm vào ướp cho ngấm.

– Với món ăn này cần lựa chọn chuối xanh, gọt vỏ cắt miếng vừa ăn. Bạn chỉ cần gọt mỏng vỏ chuối, giữ lại lớp xanh của vỏ vì khi nấu sẽ giúp chuối giòn, tạo nên vị riêng .

– Cắt nhỏ đậu phụ cho vào chảo chiên cho vàng mặt, đậu phụ sẽ giúp món ăn cân bằng về hương vị và dinh dưỡng.

– Vị chua của món cá mút đá (cá ninja) om chuối đậu được lấy từ mẻ và màu sắc là màu vàng của nghệ. Hai loại này sẽ được trộn đều, giã nhuyễn đem nấu qua để ngấm vào cá. Việc nấu sơ cá mút đá với 2 nguyên liệu này vừa khiến gia vị đậm đà hơn vừa giúp cho thịt cá săn chắc thơm ngon.

– Khi cá đã săn chắc cho tiếp chuối, nước xăm xắp mặt rồi om đến khi chuối mềm và cá chín. Lúc này ta nêm nếm thêm gia vị như muối, nước mắm cho vừa với khẩu vị rồi cho đậu phụ vào đảo đều. Om với lửa nhỏ thêm 5 phút thì cho thì là, hành lá, tía tô cắt nhỏ vào. Các loại rau này sẽ giúp món ăn có mùi đặc trưng của những món om. Việc cuối cùng chỉ là bài trí món ăn ra đĩa và thưởng thức.

c, Cá ninja xào xả ớt

Món cá ninja xào sả ớt là một trong rất nhiều những món ăn hải sản ngon ở tp. HCM mà bạn có thể thưởng thức, với món cá ninja xào xả ớt này bạn có thể tự mình chế biến món ăn ngon này như trong những nhà hàng hay trong những quán ăn ngon ở tp. HCM.

: – Đặt chảo không dính lên bếp với 1 muỗng xúp dầu ăn phi thơm sả băm + tỏi băm + ớt băm + 1 muỗng xúp dầu điều, nhắc xuống chế ra chén.

– Đặt chảo trở lại bếp với 4 muỗng xúp dầu ăn, đun nóng cho cá vào chiên nhanh với lửa lớn cho cá vàng mặt nhưng không cần chín bên trong, cho vào chảo cá chén sả ớt, trộn đều để lửa nhỏ và nêm chút nước mắm + đường, nấu độ 7 đến 8 phút là được, nhắc xuống.Gắp cá ninja xào sả ớt ra đĩa, dọn ăn với cơm và ăn kèm thêm dưa leo.

d, Lẩu cá ninja

Nguyên liệu chuẩn bị

-700gr cá ninja

– 3 trái cà chua

– 1 chén măng

– 2 nhánh hành lá; 1 trái ớt sừng

– 1/3 trái dứa

– 1 nhánh ngò ta (rau mùi); 1 bó nhỏ ngò gai (mùi tàu)

– 1 muỗng canh tỏi băm; 1 củ hành tím thái mỏng

– 1,5 muỗng canh nước cốt chanh

– 3-4 tô nước gia vị: muối, nước mắm, bột nêm và đường.

Cách làm lẩu cá ninja

Bước 1: Măng tây, dứa thái miếng vừa ăn. Cà chua thái múi. Hành, ngò gai, ngò ta thái rối. Ớt sừng thái lát.

Bước 2: Cá ninja cắt khúc, rửa sạch với nước muối pha loãng, sau đó chặt đôi ướp và đầu cá chút nước mắm và bột nêm.

Cá fillet cũng rửa sạch cắt miếng vừa ăn xếp ra dĩa.

Bước 3: Bắc chảo lên bếp, cho vào 1 muỗng canh dầu, chờ dầu nóng cho hành, tỏi vào xào thơm. Sau đó cho cá ninja vào đảo sơ.

Bước 4: Tiếp đến cho nước vào nấu sôi, hớt bọt, nêm ít gia vị. Nấu khoảng 4-5 phút thì cho dứa, măng, cà chua và thịt cá vào nấu thêm vài phút. Nêm nếm lại cho vừa ăn là tắt bếp.

Bây giờ cho nước cốt chanh, ớt và hành ngò vào là hoàn tất.

Trình bày: Lẩu cá ninja cho ra nồi giữ nóng, ăn kèm rau ăn lẩu, bún hay cùng cơm đều ngon.

Và một số cách chế biến đơn giản khác

Nướng mọi: Nướng trực tiếp cá Ninja trên bếp than hoặc bếp ga cho đến khi cá có màu vàng nâu, sợi gân sun lại là chín. Tránh nướng quá lâu khiến cá bị dai, mất nước.

– Nướng sa tế: Tẩm ướp Cá Ninja với mỡ của Sa tế 10 phút trước khi nướng (không dùng toàn bộ Sa tế vì Cá đã có vị mặn vừa phải).

– Nướng giềng sả: Tẩm ướp Cá Ninja với hỗn hợp Rau thì là thái nhỏ, hành khô, hạt tiêu, xả băm nhỏ, giềng xay nát 10 phút trước khi nướng.

– Nướng lá lốt: Tẩm ướp Cá Ninja với sa tế và tiêu. Cuốn lá lốt quanh Cá rồi cho lên chảo rán/nướng đến khi vừa chín.

Nướng trên bếp than hoặc bếp ga. Cuốn với rau sống chấm nước chấm hoặc tương ớt hoặc nước me chua.

【#2】Giá Cá Ninja (Cá Mút Đá) Và 3 Cách Chế Biến Ôm, Nướng, Xào Sả Ớt Ngon

Cá mút đá có hình dáng giống loài rắn tuy được xem như quái vật dưới nước vì hình dáng bên ngoài và sống ký sinh, nhưng cá mút đá là món ăn thượng hạng hạng thường xuất hiện ở trên thực đơn các vị vua chúa ngày xưa. Hiện nay cá mút đá, đã trở thành trào lưu của các nhà hàng với nhiều cách chế biên khác nhau như nấu ca ri, chiên bột nhưng ngon nhất vẫn là ôm và nướng..

Trong tiết trời nắng nóng mùa hè, cá mút đá om sấu là món ăn ngon, hấp dẫn và đặt biệt giúp giải nhiệt rất tốt.

Cá mút đá sinh sống ngoài khơi, da trơn như cá chình, đương kính 4cm, dài cỡ 2 găng tay, lưng đen tuyền,đuôi kết thúc đột ngột bè ra như hải cẩu. Nhìn bề ngoài của nó dễ chẳng có cảm tình thấy ghê ghê dị hợp. Cá mút đá không có xương, xương sống của nó chỉ là lõi tủy trắng, quanh lõi náy có nhiều búi gân nhỏ hỗ trợ. Khi làm cá chỉ cần mổ bụng bỏ rụt rồi cắt khúc, nhiều ngươi lột da cho thịt trắng đỡ ngại nếu chưa quen. Thực ra da cá ăn béo ngon như da cá chình. Theo nguyên cứu gần đây tiết lộ, vitamin E trong cá mút đá cao gấp 2 lấn với thịt bò, vitamin A cao hơn 5 lần so với các loại cá khác, vì cậy món ăn từ cá mút đá cho ngươi sức khỏe kém, các chị em muốn nạp nhiều vitamin E tự nhiên để làm đẹp da.

Hướng dẫn chế biến cá mút đá ôm sấu

Lột da, dùng rượu và gừng tẩy sạch nhớt và dùng trần sơ qua 5 phút để tạo độ giòn và giữ hương vị cá.

Cá mút đá hiện đang là 1 trong các loại hải sản thu hút sự quan tâm lớn của nhiều người. Một lần được thưởng thức món ăn này, chắc chắn chúng ta sẽ khó tin cơ thể dị hợp của cá mút đá lại làm ra những món ăn ngon như vậy. Không chỉ tạo cho ngươi thưởng thức vị ngon kho cưỡng, với vị thanh chua ngọt điều, món ăn này còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

1.Cá Ninja / Cá Mút Đá nướng:

Nướng muối ớt

– Nướng mọi: Nướng trực tiếp cá Ninja trên bếp than hoặc bếp ga cho đến khi cá có màu vàng nâu, sợi gân sun lại là chín. Tránh nướng quá lâu khiến cá bị dai, mất nước.

– Nướng sa tế: Tẩm ướp Cá Ninja với mỡ của Sa tế 10 phút trước khi nướng (không dùng toàn bộ Sa tế vì Cá đã có vị mặn vừa phải).

– Nướng giềng sả: Tẩm ướp Cá Ninja với hỗn hợp Rau thì là thái nhỏ, hành khô, hạt tiêu, xả băm nhỏ, giềng xay nát 10 phút trước khi nướng.

– Nướng lá lốt: Tẩm ướp Cá Ninja với sa tế và tiêu. Cuốn lá lốt quanh Cá rồi cho lên chảo rán/nướng đến khi vừa chín.

Nướng trên bếp than hoặc bếp ga. Cuốn với rau sống chấm nước chấm hoặc tương ớt hoặc nước me chua.

2. Cá Ninja / Cá Mút Đá um chuối:

– Nghệ và riềng cạo vỏ, rửa sạch rồi giã nát trộn với cơm mẻ và mắm tôm rồi lọc lấy nước cốt. Cá cắt khúc vừa ăn, ướp với nước cốt riềng mẻ và cà phê tiêu,hành tím băm nhỏ.

– Đậu phụ cắt khối vuông nhỏ chiên vàng.

– Chuối xanh tướt vỏ, cắt khúc vừa ăn rồi bổ làm tư. Ngâm chuối trong nước pha dấm loãng để không bị thâm đen.

– Cho ít dầu vào nồi phi tỏi cho vàng rồi cho cá đã ướp vào xào cho thịt cá thơm. Tiếp theo cho chuối vào đảo sơ. Cho thêm một lít nước vào om đến khi cá chín và chuối mềm vừa ăn.

– Nêm thêm muối, nước mắm cho vừa ăn rồi cho phần đậu đã chiên vào om thêm 5 phút. Khi gần ăn thì cho thêm hành lá và thì là. Dọn ăn kèm với bún và rau tía tô thái nhỏ.

3. Cá Ninja / Cá Mút Đá xào sả ớt:

– Tẩm ướp Cá Ninja với mắm, dầu điều, tiêu, hạt nêm khoảng 10 phút cho thấm gia vị.

– Trong lúc chờ đợi, chúng ta băm nhỏ sả cây, đặt chảo lên bếp và đổ dầu ăn vào. Bởi vì cần xào sả cho vàng nên cần nhiều dầu một tí. Khi dầu nóng thì cho sả băm và ớt bột vào đảo điều, phi đến khi vàng thơm thì đổ ra chén. Tùy theo khẩu vị của gia đình bạn mà lượng ớt nhiều hay ít.

– Đặt chảo lại bếp cho 1 ít dầu và đổ Cá Ninja vào chiên nhanh với lửa lớn đến khi cá vàng (không cần chín). Tiếp theo cho sả ớt đã phi thơm lúc nảy vào và 1 ít nước, sốc lên thật đều. Lúc này vặn lửa nhỏ và cho thêm 1 ít nước mắm, đường để món ăn thêm dậy mùi. Nấu với lửa nhỏ như thế thêm khoảng 5 – 7 phút đến khi nước sôi cạn thì cho hành lá và rau ngò gai đã cắt nhỏ vào, trộn đều rồi tắt bếp.

5, Mua Cá Mút Đá (Cá Ninja) ở đâu?

Mua cá ninja giá rẻ ở đâu tpHCM?

MinhHuy Foods chuyên cung cấp cá ninja giá rẻ , đôn g lạnh tại n h iều vũng tỉnh thành trên cả nước, chủ yếu ở miền Nam, TpHCM và các tỉnh lân cận khác

Khách hàng có thể mua cá ninja tại TpHCM ở địa chỉ: 110/20/3 Bà Home, P13, Q 6, HCM, hotline: 0336316194. Cá ninja giá sỉ được MinhHuy Foods đóng gói hút chân không, dóng gói theo thùng từ 10-20kg giao hàng tận nơi cho khách hàng.

MinhHuy Foods phân phối Cá Mút Đá (Cá Ninja) toàn quốc.

Liên hệ Online:

  • Website: vnhaisantuoingon.com
  • Facebook: www.facebook.com/vnhaisantuoingon
  • Email: [email protected]

Đại lý toàn quốc: Hotline: 0336316194

【#3】Mình Xin Chia Sẻ Cách Chế Biến Chè, Mứt Từ Trái Phật Thủ

Cách chế biến món chè phật thủ

1kg phật thủ (2 quả phật thủ chín vàng, to)

0,3 kg đường trắng

0,4 kg bột béo hoặc bột năng

1 ống Vali nhỏ

0,2 kg đậu đỗ xanh bóc vỏ

4 lít nước

0,2 kg muối tinh

Vì quả phật thủ có thành phần cấu tạo và có vị gần giống với cùi bưởi nên cách làm chè phật thủ gần giống với cách làm chè bưởi.

Bước 1: phật thủ rửa sạch, cắt thành các miếng nhỏ hình hạt lựu, sau đó bóp với muối cho bớt he đắng, phật thủ không cay và đắng bằng cùi bưởi nên bạn có thể bóp qua là được. sau đó rửa lại với nước, vắt sạch cho hết mặn.

Bước 2: cho phật thủ vào nồi nước đun sôi, đun nhanh không đun lâu sẽ bị nát và làm miếng phật thủ sẽ bở, không ngon. Sau đó vớt ra chờ nguội, bóp miếng phật thủ hết nước, bạn có thể dùng vải xô hoặc túi vải để vắt cho hết nước

Bước 3: sau đó cho phật thủ vào 1 cái hộp rắc đường lên trên, đậy lắp để qua đêm cho đường tan ra hết (các bạn lưu ý không cho thêm nước để nhanh tan vì sẽ bị ra nhiều nước và miếng phật thủ sẽ bị nhạt)

Bước 4: vớt phật thủ ra, để ráo nước đường rồi lăn qua bột năng hoặc bột béo. Trong lúc đấy, cho nước vào nồi đun sôi 2 lít nước, nước sôi cho phật thủ đã lăn qua bột vào, miếng nào nổi lên là đã chín, bạn có thể vớt ra bát

Bước 5: dùng luôn nước vừa đun phật thủ cho đậu xanh đã ngâm qua nước cho nở vào nồi đun khi nào đậu chín thì cho đường, vali và thêm chút bột năng hoặc bột béo cho nước sánh lại rồi đổi chỗ phật thủ vừa tẩm bột đun chín vào đảo cho đều chờ sôi lại thì tắt bếp chờ nguội rồi múc ra bát.

Thành phẩm:

Chè có màu vàng của phật thủ và đậu xanh, nước chè sánh, trong. Chè có mùi vị thơm mát của trái phật thủ, mùi thơm của vali và bột béo. Khi ăn có vị ngọt mát, ăn phật thủ sẽ có vị the nhẹ, đây là mùi vị đặc trưng của món chè phật thủ.

Múc ra bát để nguội ăn cùng với đá, để bát chè trông ngon miệng hơn, bạn có thể rắc lên ít dừa nạo thái nhỏ, ít nước cốt dừa. Đảm bảo bạn sẽ bị mê hoặc đến không thể chối từ với món ăn bổ dưỡng, thơm mát và giải nhiệt rất tốt này.

Nguồn: http://banbuonphatthu.com/cach-lam-mon-che-phat-thu-thom-ngon/

【#4】Tổng Hợp Cách Làm 4 Món Ăn Ngon Cơm Lại Chế Biến Nhanh Đơn Giản

1. Sườn sụn xào chua ngọt Nguyên liệu:

  • 500gr sườn sụn heo
  • 1 miếng riềng
  • 1 củ sả
  • 3 tép tỏi
  • 1 trái ớt sừng
  • 1/2 thìa cà phê tiêu
  • Nước mắm mặn ngọt: 2 thìa canh nước mắm, 2 thìa canh đường, 4 thìa canh nước, ớt và tỏi băm. Hòa đều tất cả trong một bát.

Cách làm:

Riềng, sả, tỏi, tiêu và ớt cho vào cối giã nhuyễn.

Sườn sụn rửa sạch, băm nhỏ.

Bắc chảo lên bếp, cho vào 2 muỗng canh dầu, chờ dầu hơi nóng cho sụn heo vào xào tơi. Sau đó cho nguyên liệu giã nhuyễn ở bước 2 vào xào thơm 4-5 phút.

Cuối cùng, cho bát nước mắm mặn ngọt vào đảo đều, đậy vung, rim nhỏ lửa cho đến khi khô ráo. Nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn rồi tắt bếp.

Sườn sụn xào chua ngọt cho ra đĩa, rắc chút hành lá là hoàn tất.

2. Đậu sốt Tứ Xuyên Nguyên liệu:

  • 1 hộp đậu non (thái miếng vuông, luộc chín)
  • 100gr thịt lợn xay (hoặc thịt bò xay)
  • 1 củ tỏi
  • 3 nhánh hành hoa
  • 1 củ gừng
  • 1gr ớt bột
  • Gia vị: 1 thìa sa tế, 1 thìa dầu hào, 1/2 thìa dầu mè

Cách làm:

Gừng rửa sạch, tỏi bóc vỏ sau đó đem băm nhỏ. Hành hoa rửa sạch, thái nhỏ để riêng phần đầu hành.

Đặt chảo lên nếp làm nóng một chút dầu ăn rồi cho phần đầu hành trắng vào phi thơm với ớt bột.

Tiếp theo cho sa tế, dầu mè và dầu hào vào chảo đảo đều với gừng, tỏi khoảng 1 phút.

Đợi thịt se mặt lại, tơi ra và gần chín hẳn, bạn nhẹ tay cho đậu vào chảo kẻo đậu nát. Bạn đừng dùng đũa mà hãy lấy 2 tay lắc nhẹ chảo để đậu ngấm sốt cho đều, tránh chọc nát đậu non. Cho thêm một chút nước, vặn nhỏ lửa, đậy vung nấu thêm 3 – 5 phút nữa cho đậu mềm và ngấm sốt thật sâu, rắc hành lá băm nhỏ lên trên, có thể cho thêm chút tiêu bột cho thơm nữa.

Món này phải ăn lúc còn nóng sốt, vừa ăn vừa xuýt xoa mới ngon, chỉ cần chan với cơm trắng thôi cũng ngon khó cưỡng rồi.

3. Thịt băm rang riềng Nguyên liệu:

  • 300gr thịt nạc vai
  • 100 – 150gr riềng tươi
  • 3 thìa nhỏ nước mắm
  • 1 thìa nhỏ đường và mì chính nếu thích

Cách làm:

Thịt nạc vai sơ chế sạch sau đó cho vào máy xay (hoặc bằm bằng dao) tiếp theo cho nước mắm vào ướp trong khoảng 10-15 phút.

Riềng củ tươi sơ chế sạch, sau đó thái nhỏ và băm nhuyễn (hoặc cho vào máy xay).

Tiếp theo, chuẩn bị chảo nóng có chút dầu rán, sau đó cho riềng vào chảo chiên. Đảo đều tay đến khi riềng giòn và chuyển sang màu vàng cánh rán là được.

Cho thịt băm đã ướp gia vị nước mắm vào rang, đảo đều tay và rang đến khi thịt vàng cháy cạnh là được. Lúc này có thể nêm thêm 1 thìa nhỏ đường và mì chính nếu thích.

Chỉ với một chút sáng tạo là bạn đã có món thịt băm rang riềng đậm đà, ngon cơm rồi.

4. Thịt chưng mắm tôm Nguyên liệu:

  • 300gr thịt lợn nửa nạc nửa mỡ
  • 1/2 củ hành tây
  • 3 thìa nhỏ mắm tôm đặc (nếu mắm tôm loãng 8 thìa nhỏ)
  • 3 thìa nhỏ đường
  • 3 thìa nhỏ nước nóng
  • 5 thìa nhỏ dấm
  • Ớt quả
  • Mì chính

Cách làm:

Thịt sơ chế sạch, thái hạt lựu rồi đem rang cháy cạnh.

Các loại gia vị: mắm tôm, dấm, đường, ớt và nước nóng đem trộn đều trong một bát.

Hành củ thái nhỏ, phi thơm vàng rồi cho thịt đã rang cháy cạnh vào đảo đều.

Tiếp tục, đổ bát hỗn hợp mắm tôm vào và đảo đều rồi chưng. Đến khi thịt chưng mắm tôm chuyển màu vàng nâu là được, ta tắt bếp và nêm thêm mì chính (tùy ý) là được.

Món thịt chưng mắm tôm đậm đà, ăn rất trôi cơm. Bạn có thể chấm cơm cháy với thịt chưng mắm tôm cũng rất tuyệt.

【#5】Ăn Mực Ống Có Tốt Không? Cách Chế Biến Các Món Mực Ngon

Mực ống cùng một họ với bạch tuộc, sò và hàu, sò. Chúng có phần đầu và phần thân rõ ràng. Thân có da, cân xứng hai phía, có tám tay và một cặp xúc tu. Trong cơ thể mực ống có chứa hợp chất mực màu đen. Khi gặp nguy hiểm, mực ống phun mực ra tạo nên một màn đen dày đặc trong nước. Nhờ đó chúng có thể lẩn trốn khỏi nguy cơ đe dọa.

Trong mực có chứa nhiều hợp chất như: melanin, catecholamine (hormone), các kim loại như cadmium, đồng và chì, enzyme, polysacarit, cũng như các axit amin, như alanine, leucine, axit aspartic, glutamate và taurine. Trong số đó, hợp chất melanin làchất chính trong mực ống. Đây là sắc tố giúp làm cho màu mực đậm.

Trong mỗi 85 gram mực ống chưa qua chế biến chứa khoảng:

  • 13,2 gram protein
  • 0,4 gram chất béo không bão hòa đa
  • 0,3 gram chất béo bão hòa
  • 198 miligam cholesterol
  • 0,09 gram chất béo không bão hòa đơn

Mực ống từ xưa nay được con người sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: y học cổ truyền, viết lách, làm phụ gia thực phẩm, mỹ phẩm và nghệ thuật.

Hiện nay, chúng phần lớn được dùng làm phụ gia thực phẩm trong gạo, nước sốt và mì ống trong nhiều món ăn ở Nhật Bản và Địa Trung Hải do màu đen đặc trưng cùng với hương vị thơm ngon của nó.

2. Lợi ích từ mực ống

2.1. Đặc tính kháng khuẩn

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng loài mực này có đặc tính kháng khuẩn cao. Giúp chúng vô hiệu hóa các virus và vi khuẩn có hại. Ví dụ, một nghiên cứu trên ống nghiệm chỉ ra rằng chiết xuất từ mực ống có hiệu quả trong việc trung hòa các vi khuẩn thường tạo các mảng bám răng. Ví dụ như Lactobacillus acidophilus, Streptococcus mutans, Actinomyces viscosus và Candida albicans.

Một nghiên cứu trên ống nghiệm khác cho thấy các hợp chất có trong mực ống có khả năng vô hiệu hóa các loại vi khuẩn gây bệnh từ thực phẩm như Listeria Monocytogenes và Escherichia coli.

2.2. Khả năng chống oxy hóa

Mực ống có khả năng chống oxy hóa mạnh. Chất chống oxy hóa là các hợp chất có thể chống lại các phân tử gây hại còn được gọi là gốc tự do. Nếu mức độ các gốc tự do trong cơ thể trở nên quá cao. Chúng có thể làm tổn thương các tế bào và tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim và ung thư.

Một số nghiên cứu trên ống nghiệm và động vật đã chứng minh rằng khả năng chống oxy hóa của chúng có được nhờ vào các polisaccarit. Là chuỗi dài các phân tử đường liên kết dính liền với nhau chống lại các gốc tự do.

2.3. Ngăn ngừa ung thư

Các nghiên cứu trên ống nghiệm cho thấy, loài mực này có khả năng làm giảm sự lan rộng của các tế bào ung thư và kích thước khối u. Các đặc tính chống ung thư của mực dường như được liên kết với các đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ.

Ăn mực ống có thể ngăn ngừa ung thư. Cụ thể hơn, các nghiên cứu trong ống nghiệm đã cho thấy rằng polisaccarit và protein trong mực có thể làm hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú, ung thư phổi.

Bên cạnh đó, những nghiên cứu khác trên động vật cho thấy polysacarit trong mực có thể bảo vệ, chống lại những tổn thương từ thuốc hóa trị liệu gây ra.

2.4. Những lợi ích khác

  • Ăn mực có thể cải thiện huyết áp: trong mực có chứa các hợp chất có khả năng làm các mạch máu giãn ra. Giúp làm giảm và cải thiện huyết áp.
  • Chống loét dạ dày: ăn mực có thể làm giảm sự sản sinh axit dạ dày, từ đó chống loét dạ dày.
  • Tăng cường hệ miễn dịch: ăn mực ống thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của các tế bào miễn dịch. Giúp tăng cường khả năng miễn dịch tổng thể so với giải pháp kiểm soát.

3. Cách sử dụng

Mực ống được dùng với nhiều mục đích khác nhau. Trong y học Trung Quốc, mực ống được dùng để điều trị các bệnh lý về máu và tim. Bên cạnh đó, chúng còn được sử dụng một cách rộng rãi để viết và vẽ trong thế kỷ 19. Hiện nay, chúng chủ yếu được sử dụng làm thức ăn và gia vị nấu ăn.

Mực ống cũng được dùng phổ biến trong ẩm thực của Nhật Bản và Địa Trung Hải. Theo các đầu bếp hàng đầu, mực ống giúp làm gia tăng hương vị món ăn và sự hấp dẫn của nước sốt, cũng như các món cơm và mì ống.

Với hàm lượng glutamate cao mang lại đặc tính mặn của mực, là một loại axit amin và cũng là một hợp chất umami. Mực ống giàu glutamate có vị umami thơm ngon. Chúng là một loại thực phẩm an toàn, giúp bạn tăng hương vị cho các món ăn của mình.

4. Các món ăn ngon được chế biến từ mực ống

4.1. Mực ống hấp gừng

Nguyên liệu: 500g mực ống, gừng, hành lá và hành tây

Gia vị: tiêu, đường, bột nêm, dầu hào, dầu ăn và muối tiêu chanh

Cách chế biến món mực ống hấp gừng

Làm sạch mực rồi để ra rổ cho ráo nước.

Sau đó, uớp bột nêm, tiêu, đường, dầu ăn và dầu hào, để cho thấm.

Cho mực vào lòng đĩa sâu và hấp.

Khi gần chín, cho gừng thái sợi, hành tây thái miếng nhỏ và hành lá cắt khúc vào. Hấp tiếp trong khoảng 5 phút nữa là xong. Ăn nóng với muối tiêu chanh.

4.2. Mực ống chiên bơ

Nguyên liệu: 500g Mực ống, 2 quả trứng gà, 1 hộp bơ nhỏ, bột chiên giòn, bột ngô, bột chiên xù, ớt chuông, xà lách, dầu ăn, tỏi và gia vị.

Cách chế biến món mực ống chiên bơ

Mực ống làm sạch sắt thành miếng khoảng 3×3 cm. Băm nhỏ hành tỏi rồi cho vào ướp với mực cùng bột ngọt, gia vị và hạt tiêu. Trứng gà bỏ đi lòng trắng rồi cho vào bát mực trộn đều cùng bột ngô và bột chiên giòn.

Sau đó, bạn gắp ra từng miếng rồi lần lượt thả vào bát bột chiên xù, lật qua, lật lại để bột chiên xù bám đều vào miếng mực. Tiếp theo, bạn gắp để riêng ra một đĩa khác.

Bắc chảo lên bếp, chờ cho nóng dầu. Bạn cho mực vào chiên cho vàng rồi vớt ra để ráo mỡ. Cho bơ vào một chảσ khác, đun nóng, cho tỏi đập nhỏ vào, phi thơm đến khi có màu vàng thì tắt lửa. Dùng thìa múc nước bơ đó rưới lên các miếng mực đã chiên. Lúc này bạn chỉ cần gắp ra đĩa và thưởng thức.

4.3. Mực ống nhồi thịt chiên

Nguyên liệu: 500g mực ống, 2 quả trứng, 100g vụn bánh mì, 200g bột mì, 350g bột chiên xù, 30ml nước tương, 50ml tương cà và 50ml sốt mayonnaise

Gia vị: tiêu, muối, hạt nêm, rượu trắng và dầu ăn.

Cách chế biến món mực ống nhồi thịt chiên

Cắt mực thành từng khoanh. Đem ướp với muối, tiêu và rượu trắng, để trong khoảng 15 phút.

Đánh đều trứng trong một cái tô lớn. Cho bột xù, bột mì và vụn bánh mì ra một cái đĩa rộng.

Bạn lăn mực ống qua bột mì. sau đó nhúng vào trứng và cuối cùng áo đều lớp vụn bánh mì cùng với bột chiên xù.

Bắt chảo lên bếp, chờ cho nóng dầu. Cho mực vào chảo dầu ngập đang sôi rồi chiên cho đến khi bột chuyển thành màu vàng thì vớt ra đĩa.

Bạn nên chuẩn bị trước một khay lót giấy thấm dầu để món mực chiên xù của bạn không bị thấm nhiều dầu. Mực chiên xù sẽ ngon hơn khi dùng với nước sốt mayonnaise trộn đều cùng tương ớt.

4.4. Mực ống xào chua

Nguyên liệu: 200g Mực ống, rau cần, gừng, hành tây, dứa, cà chua, hành tím, hành lá và bột năng.

Gia vị: nước mắm, muối, hạt nêm, dầu hào và tương cà.

Cách chế biến món mực ống xào chua

Mực tươi làm sạch, tiếp đó dùng dao khía các đường chéo lên toàn thân mực rồi cắt thành những miếng nhỏ vừa ăn.

Dứa (thơm) bạn gọt bỏ vỏ rồi thái lát mỏng. Rửa sạch cà chua và hành tây và thái múi cau. Gừng bạn thái chỉ, hành tím, đầu hành lá băm nhỏ. Còn cần tây, hành lá rửa sạch rồi cắt thành từng khúc dài khoảng 4cm.

Bước tiếp theo, bạn bắc chảo lên bếp, chờ cho nóng dầu rồi cho hành tím, đầu hành lá băm nhỏ, gừng thái chỉ vào chảo phi thơm. Rồi cho mực vào xào chín, nêm thêm chút muối, hạt nêm và nước mắm cho vừa ăn rồi múc mực để riêng ra bát.

Còn phần nước mực tiết ra sau khi xào trong chảo, bạn giữ nguyên. Rồi cho thơm (dứa) vào và đảo đều tay trong khoảng 5 phút. Cho vào thêm cà chua và hành tây đã chuẩn bị vào xào cùng. Bạn thêm một chút tương cà, dầu hào rồi đảo đều lên. Tiếp theo trút mực vào cùng và đảo đều, nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn.

Đem hòa bột năng với một chút nước đổ vào đun cùng đến khi nước xào sệt lại thì cho hành lá và rau cần cắt khúc vào đảo đều. Lúc này bạn đã có thể thưởng thức món mực ống xào chua thơm ngon rồi.

【#6】Đông Bắc & Tây Bắc Việt Nam

Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn(Hà Giang), thác Bản Giốc và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), v.v…; những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng. Năm 2010, nhiều công ty du lịch VN đã tổ chức tour du lịch vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam.

Tôi đã đi Hạ Long nhiều lần rồi nên kỳ này, tôi quyết định chỉ đi Sapa và vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam. Năm nay (2011), giá tour trong nước tăng cao do nhiều nguyên nhân(điện + nước + xăng dầu tăng, vật giá tăng nên cái gì cũng tăng theo); thậm chí so với giá tour nước ngoài(như đi Thái Lan, Campuchia, Sing – Mã, etc…) thì bà con thà rủ nhau đi nước ngoài vẫn thích hơn; nhất là thái độ phục vụ. Từ Saigon, tôi bay ra Hà Nội và công ty du lịch đón tại sân bay rồi đưa đi Sơn La, qua Mộc Châu (đường quốc lộ 6: Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Lai Châu) và ghé ăn trưa tại

Thị trấn Phù Yên. Nếu theo quốc lộ 37: Mai Sơn – Bắc Yên – Điện Biên – Phù Yên – Yên Bái, chúng ta sẽ đi Điện Biên hay Yên Bái.

Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã tổ chức nhiều tour ngắn ngày và đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia ” Quế Lâm Ngự Chế” – bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng, dưới lòng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ vòm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

Khi áng chiều đã trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những dòng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh bình, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn mình theo triền núi. Cách trung tâm thị xã gần 5 km, điểm tham quan và thư giãn tại khu Suối nước nóng Bản Mòng hiện ra còn nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đã lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xã Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những dòng suối nước trong veo và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần hòa quyện cùng điệu xòe bên ánh lửa bập bùng sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành trình về với Sơn La. Mời các bạn hãy đến thăm Sơn La.

Chiều, chúng tôi t ới TP Sơn La. Sau khi nhận phòng và dùng bữa tối , chúng tôi TP Sơn La về đêm Sơn La cách bia văn của hoàng đế đi thăm qua và đi tắm suối khoáng nóng rồi mới về nghỉ đêm tại khách sạn. Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố háng 1 năm sau. Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ “Quế Lâm Ngự Chế” gồm 140 chữ Hán.Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12

Những con đường rộng bình yên, những thiếu nữ dân tộc người Thái và Mường xúng xính trong váy áo với nhiều hoa văn làm say lòng khách lạ, làm tan đi cảm giác mỏi mệt sau một hành trình dài hơn 300km từ một bến xe của Hà Nội. Được xây dựng vào năm 1908, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ cấp tỉnh với diện tích 500m 2, sau được thực dân Pháp mở rộng diện tích lên gấp ba lần, nhà ngục Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là nhà tù thép, là nơi giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam.Với những căn phòng tối bằng gạch và đá khá kiên cố, mái lợp tôn, mùa hè nơi đây tựa một lò nung và mùa đông thực sự là một chiếc tủ lạnh trong gió mùa biên ải khắc nghiệt.Giữa những bức tường nhà ngục đổ nát như là minh chứng cho những tội ác dã man của kẻ thù, tình cờ tôi đã gặp bác Trần Nguyên, một cán bộ thông tin của chiến trường miền Đông Nam Bộ, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lặn lội từ Quân khu 4 ra thăm. Ông ra thăm với mục đích duy nhất là muốn được nghe lại những câu chuyện cảm động về hoạt động của chi bộ đảng nhà tù Sơn La, đi thăm và cảm nhận về sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử.

Cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Thái dẫn chúng tôi đi thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian… Đến mỗi một địa danh, chúng tôi lại được nghe những câu chuyện cảm động về sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù, tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, tổ chức vượt ngục… của những cán bộ ưu tú của Đảng như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu….

Cây đa bản Hẹo là địa điểm liên lạc bí mật giữa Trung ương Đảng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ địa điểm liên lạc này, Chi bộ nhà tù Sơn La nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương Đảng để tổ chức lãnh đạo đấu tranh giải phóng nhà tù, đưa các cán bộ trung kiên của Đảng trở về với phong trào cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều Đảng viên Cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7/3/1944. Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đồng chí Tô Hiệu, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cho khắc tấm bia đá có chữ Tô Hiệu, bí mật đặt dưới mộ đồng chí. Cây đào mang tên Tô Hiệu được trồng bên tường trại giam hiện nay vẫn còn, bốn mùa luôn xanh tươi như một minh chứng về sức sống lâu bền của cách mạng Việt Nam, thành một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt. Nhà tù Sơn La gồm có 5 nhà giam chính, 4 tháp canh cùng một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu trong lòng đất gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể. Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, và đến năm 1965, Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La, phá hủy một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại. Lần thứ nhất, san lấp hố bom, xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần thứ hai, vào năm 1994, phục chế lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Hiện nay, nhà tù Sơn La trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Hằng năm Bảo tàng Sơn La đã đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách là các em học sinh, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sinh viên, khách ngoại tỉnh và quốc tế tới thăm.

Tới thăm bản Cọ – quê hương của anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá

Bản Mòng là một địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng hấp dẫn thuộc xã Hua La, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Điều đầu tiên mà du khách cảm nhận được là cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình nơi đây. Những dãy núi nhấp nhô như thân rồng uốn lượn soi mình xuống dòng Nậm La. Trên các sườn đồi cà phê, mơ, mận, thông, tre mọc um tùm. Xa xa là rừng cây với các loại gỗ quý: đinh hương, sến, nghiến, thông, trẩu….và hàng chục loài hoa phong lan với nhiều màu sắc. Vào độ xuân về, hoa mơ, hoa mận và hoa ban đua nở trằng rừng với từng bày ong bay tìm mật tạo nên không khí vui nhộn. Khi đông về, hoa vông gai nở đỏ rực bên sườn đồi như tô điểm cho những ngôi nhà sản lợp ngói đỏ. Cái rét se lạnh cũng là thời điểm lý tưởng để thả mình trong dòng suối nước nóng.

Đến với vùng đất này du khách còn có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc có chữ viết từ thế kỷ XI. Hiện tại, Bản Mòng có 106 hộ dân thuần Thái sinh sống. Họ sống trong nhà sàn lợp ngói ven các sườn đồi. Bên trên nóc nhà được trang trí bởi các loại khau cút, và cửa sổ cũng có đủ các loại hình thù: hình ngà voi, hình mặt trăng… Người dân nơi đây làm các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, dệt thổ cẩm, đan lát, làm gốm.

Với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, những cư dân nơi đây đã biết tạo nên những món ăn dân dã nổi tiếng như món xôi được chế biến từ gạo nếp dẻo thơm ủ trong những cái ếp khảu nhỏ xinh xắn, món cơm lam nấu từ gạo được ngâm sau mấy giờ cho vào một loại ống tre non đốt trên than củi có mùi thơm đặc biệt, cá nướng, thịt khô, các món rau, măng đặc sản của vùng núi: măng lay, măng bói, măng đắng, nấm hương, nấm mối, rau sắng, sổm lôm…….

Trong những đêm trăng bên ánh lửa bập bùng trong nhà sàn, du khách sẽ được cùng với chủ nhà thưởng thức những hương vị đặc sắc cùng chum rượu cần. Lòng hiếu khách của người dân và phong cảnh hữu tình nơi đây sẽ giúp quý khách quên hết những mệt nhọc của một chuyến đi xa và những bận rộn đời thường. Những âm hưởng hòa quyện của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chim rừng thánh thót cùng điệu múa xoè, múa cánh bướm, múa piêu… thúc giục như mời chào quý khách cùng hoà nhập với âm điệu của lời hát Inh lả ơi…” chắc chắn sẽ để lại cho du khách cảm giác bâng khuâng, lưu luyến và mong có ngày được trở lại với Bản Mòng.

Hang Dơi thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với diện tích là 6.915 m2. Nơi đây dưới sự tác động của thiên nhiên đã tạo ra những hang động lớn với những cảnh đẹp mê hồn, cùng địa hình có độ dốc lớn những dòng suối chảy đã tạo ra những dòng thác khiến không ít du khách phải trầm trồ thán phục.

Từ đường quốc lộ, muốn tới hang thì bạn phải leo 240 bậc mới tới được cửa hang. Tuy nhiên, đường được tạo dáng uốn khúc nên sẽ làm giảm bớt cảm giác mỏi mệt của du khách. Khi lên đến cửa hang, điều đầu tiên mà du khách cảm nhân được chính là khí hậu nơi đây vô cùng mát vẻ khiến bao mỏi mệt bỗng chốc tan biến.

Những dãy núi uốn lượn bao quanh thung lũng tạo nên một cảnh tượng có một không hai: Vào buổi sáng thì bầu trời chỉ toàn một màu trắng, đến buổi trưa thì màu xanh biếc, buổi trưa thì rực hồng và màu tím biếc khi hoàng hôn.

Từ cửa hang bước vào, du khách sẽ cảm thấy sững sờ khi thấy một cảnh sắc diệu kỳ hiện ra trước mắt trong ánh sáng mờ ảo từ cúa hắt vào như thể tạo hóa đã cảm tỉnh riêng với nơi đây mà nhô ra những vẻ đẹp kỳ thú. Trên trần động cao rủ xuống những dải nhũ thạch lấp lánh đủ 7 sắc cầu vồng.

Phần giữa hang vòm động được nâng cao lên, có bức mành đá chắn ngang và được gọi là buồng “Công chúa”. Bên phía trái là khối nhũ đá hình người con gái đang ngồi quay sợi. Không những vậy, nơi đây còn có rất nhiều nhũ đá đủ mọi hình dáng do thiên nhiên khéo léo tạo thành.

Trong lòng hang cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ, nhìn vào những đường nét trạm trổ trên nhũ đá cho ta cái cảm giác như có bàn tay của con người can thiệp vào bởi nó quá tinh xảo và sống động. Tuy nhiên, những cảnh đẹp nơi đây đều do thiên nhiên ban tặng.

Trên vòm hang có nhiều hốc đá, đây chính là tổ của những đàn dơi đông đúc, đen kịt và do đó nó mới có tên là Hang Dơi. Từ trên vòm hang, những giọt nước nhỏ xuống nhủ đá tạo nên một thứ âm thanh vô cùng thánh thót và êm dịu, thứ âm thanh đó đã khiến không biết bao du khách mãi nhớ đến Hang Dơi.

tiếp tục dừng chân nghỉ và ngắm cảnh t Sau đó, chúng tôi khởi hành đi Điện Biên, ngắm cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc với các bản dân tộc Thái, Mường. Trên đường đi chúng tôi rên đỉnh đèo Pha Đin (một trong những đèo dài nhất Việt Nam), thăm khu du lịch Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. D ùng bữa trưa tại khu du lịch Pa khoang.

Sân bay Điện Biên ngày nay

Phóng viên ảnh Hoàng Chương, Minh Nguyệt, Chị Oanh cùng Đào Xuân Mai và cây bút hài Nguyễn Hữu Nhiệm từ trái qua trước bảo tàng Điện Biên

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng đờ castri ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hai cô gái xinh đẹp là cộng tác viên bản tin từ trong hầm chỉ huy ra Minh Nguyệt, Hoàng Anh Phương

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Ngày xưa đồng vẫn màu đồng

Ngày nay đồng chuyển màu hồng sang …đen.

(Đó là cách nói ví von về các vị chức sắc biết cách “ăn đồng”).

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Đào Xuân Mai và anh Trần Hồi Trước hầm chỉ huy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Phó tổng giám đốc, Tổng biên tập bản tin

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Gái này chẳng phải Thái đâu Trong bản làng văn hóa Điện Biên

Trước hồ em đứng …lên màu liêu trai

Giới thiệu cách thức nấu xôi nếp cẩm Hoàng Anh Phương và cụ bà hơn trăm tuổi

Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và 6. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên. Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.

Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, Lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.

Khí hậu tỉnh Điện Biên là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC. Nhờ khí hậu núi cao, thiên nhiên hoang sơ nên Điện Biên đang được đầu tư để trở thành điểm du lịch nhưng nói thật là thái độ phục vụ & ăn uống quá tệ, e rằng khó có du khách nào muốn trở lại lần nữa.

Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.

Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.

Mấy năm nay con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng khiến khoảng cách giữa Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần và đây là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Thành thật mà nói thì ngồi thuyền trên sông vẫn thích hơn ngồi xe suốt ngày; ít ra cũng mát mẻ hơn và thoải mái ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ ở 2 bên bờ sông.

Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1. Các điểm du lịch

Đồi A1

Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi.

Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

Nằm tại khu phố 1, P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Bảo tàng Điện Biên Phủ được xây dựng vào năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

-Vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ.

-Tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ.

-Đảng chuẩn bị đường lối chỉ đạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

-Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ.

-Điện Biên Phủ ngày nay.

-Hầm chỉ huy tướng Đờ Cát : Nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Nằm trong một khu rừng nguyên sinh tại địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25km về phía đông.

Để đến đây du khách phải đi bằng ô tô, vượt qua dốc Tà Lơi hiểm trở và nhiều đoạn đường quanh co, khúc khuỷu. Gần với Sở chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi độ cao trên 1.000m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Đến sở chỉ huy, du khách sẽ được thăm các điểm sau :

-Chòi canh gác số 1

-Hầm thông tin liên lạc

-Đài quan sát

-Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

-Lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái

-Đường hầm xuyên núi dài 96m nối liền lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Hầm của ban cố vấn Trung Quốc

-Nhà hội trường

-Hầm ban chính trị

Đèo Pha Đin nằm trên đường từ Hà Nội lên Điện Biên, ở ranh giới giữa tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo Pha Đin

Đèo dài 32km, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh. Pha Ðin tiếng địa phương nghĩa là Trời Ðất. Theo truyền thuyết địa phương, đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất.

Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

Hồ Pá Khoang

Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km. Trong khu vực lòng hồ có các bản dân tộc Thái, Khơ Mú là những dân tộc còn giữ được những phong tục tập quán, nét đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc …

Hang Thẩm Báng

Thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Hang Thẩm Báng đã được xếp hạng di tích và là một điểm tham quan của du khách. Đây là hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn nguyên vẹn. Lòng hang rộng và sâu, cao gần 100m, có nhiều ngách.

Giữa hang có phiến đá to bằng phẳng như mặt bàn. Nhìn lên các vách, trần đá, nhiều măng đá, nhũ đá tạo thành những hình thù những con rồng, con phượng, sư tử, voi quì hoặc những đoá phong lan tuyệt đẹp.

Cầu Mường Thanh

Chiều: chúng tôi t ới Điện Biên, nhận phòng khách sạn xong là rủ nhau đi thăm và mua săm đồ lưu niệm tại chợ trung tâm Điện Biên Phủ. Sau đó, c húng tôi khởi hành đi tham quan bảo tàng Điện Biên, Viếng Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1, thăm Đồi A1, thăm Hầm sở chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries, Cầu Mường Thanh, Sông Nậm Rốm,v.v…

đền Hoàng Công Chất

Hầm bộ chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries

Sáng ngày thứ 3, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi khởi hành đi tham quan cửa khẩu Tây Trang – cửa khẩu quốc tế giữa Việt Nam và Lào. Trở lại TP Điện Biên, dùng bữa trưa tại nhà hàng.

khởi hành đi Lai Châu Chiều: Chúng tôi theo quốc lộ 4D dọc theo sông Nậm Na. Chúng tôi thăm quan cửa khẩu Ma Lu Thàng, tiếp tục khởi hành về TX Lai Châu, dùng bữa tối tại nhà hàng. Chúng tôi n TX Lai Châu ghỉ đêm tại khách sạn.( mới).

Sáng ngày thứ 4, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi trả phòng, khởi hành đi Tuyên Quang, qua Than Uyên, thăm Mù Cang Chải , ăn trưa tại thị trấn Tú Lệ.

Chiều: Tiếp tục hành trình qua t hị xã Nghĩa Lộ thăm suối Giàng, cây Chè 500 năm tuổi, tiếp tục hành trình qua thành phố Yên Bái về Tuyên Quang, chúng tôi nhận phòng khách sạn.Qua 400km, chúng tôi mệt lã người nên d ùng bữa tối tại nhà hàng xong là nhào lên tắm và ngủ 1 chút. Thức dậy, chúng tôi

dạo chơi tham quan thành Phố Tuyên Quang. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Một nhà thờ ở t hị xã Nghĩa Lộ

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Đồng Văn

Sáng ngày thứ 5, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành chúng tôi vào thăm quan Bảo tàng Tân Trào và nghe giới thiệu về khu đi khu di tích lịch sử Tân Trào (ATK) – thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi mà Đảng Cộng Sản Đông Dương tiến hành hội nghị toàn quốc (13/08/1945) đến Tân Trào, di tích lịch sử Tân Trào (ATK) thăm quan Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cây Đa Tân Trào, lán Là Nừa, ăn trưa tại thị trấn Hàm Yên.

khởi hành theo đường Chiều: Tiếp tục hành trình đi Mèo Vạc, chúng tôi 4C đi Mèo Vạc – “Cổng Trời”, với độ cao khoảng 1.000m so với mặt biển, địa hình chập chùng núi rất khó khăn trong việc đi lại nhưng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho huyện vùng cao biên giới này một sức hút kỳ lạ đối với du khách. Đến Mèo Vạc, chúng tôi thăm chợ Mèo Vạc.

“Cổng Trời”Mã Pi Lèng

nhà vua Mèo

Mèo Vạc

Sau đó, chúng tôi t Lãng mạn hơn cả là chặng đường Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang cặp theo dòng sông Lô, dòng sông đã đi vào nhạc phẩm nổi tiếng của Văn Cao, và những dãy núi đá vôi trùng điệp. iếp tục khởi hành đi Đồng Văn. Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực. Đầu hè, những triền ngô(bắp) xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người H’Mông đang hối hả cày cấy… Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang. Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang! Thắng cố và rượu ngô là 2 món phổ biến nhất ở vùng này.

Ấn tượng nhất là cung đường lên cao nguyên Đồng Văn, một bên vách núi dựng đứng còn bên kia là vực sâu và con lộ phía trước tưởng chừng hút thẳng lên trời cao. Một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Đông – Tây Bắc mà nhiều du khách mong đợi được đặt chân đến chính là điểm cực bắc Việt Nam trên đỉnh Lũng Cú. Nơi đây từng được ví là “nóc nhà Việt Nam”, nơi mà người dân đất Việt nào cũng đều mơ ước một lần thưởng lãm.

Sau quãng đường dài với những thử thách ấy, chúng tôi được đền bù xứng đáng vì phong cảnh hoang sơ, hùng vỹ trải dọc các danh thắng cổng trời Quản Bạ, núi Đôi, dinh thự vua Mèo, đèo Mã Pí Lèng, những làng mạc của người dân tộc H’Mông trắng, Lô Lô, Dao đỏ… cứ vụt qua ô cửa sổ xe trên từng cây số xe chạy qua.

Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng “lõi của cao nguyên đá” là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái “dưa mèo” mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng. Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.

Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua “cửa ải” Yên Minh. Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá “độc”. Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan. Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi trên trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!

Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước. Vào các buổi sáng chủ nhật, dưới những mái ngói thâm nâu ấy là cả một thế giới kỳ lạ của ẩm thực! Rượu ngô người Mông 8.000 đồng/ lít, uống say tràn cung mây. Một dãy nhà ngang của chợ được dành riêng cho hàng ăn uống với rất nhiều quán phở thịt lợn. Trước dãy nhà này, xôi bảy màu của người Tày xếp thành dãy. Xế vào phía uỷ ban huyện Đồng Văn là những phản thịt lợn và kế bên là các lò thắng cố thơm phức vị thảo quả lẫn với mùi khói gỗ nghiến hệt mùi gỗ pơ mu.

Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món “gà mèo”, một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá “ứng xử” với gà mèo. Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!

Tới đây chúng tôi không chỉ được thoả sức ngắm nhìn trời đất mà còn được tham quan một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn – đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên Núi Đá.

Đồng Văn ( Hà Giang)

Về địa thế, Hà Giang có 8 huyện, một thị xã thì 2 huyện phía Tây bắc là vùng cao núi đất và 4 huyện phía Đông bắc là vùng cao núi đá. Năm 2010 tổ chức unesco – Liên hiệp quốc đã công nhận vùng cao nguyên núi đá này là công viên địa chất Quốc gia và Quốc tế. Đây là công viên đá thứ 69 trong các công viên địa chất toàn cầu và thứ hai trong vùng Đông Nam Á.

Ngày 03/10/2010, Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cao nguyên này có diện tích 2.350 km2, gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, độ cao trung bình 1.400-1.600 m, nơi tập trung nhiều loại hình di sản, nổi bật là di sản địa chất và di sản văn hóa. Ảnh: Thanh Hà.

Khu vực phía Đông bắc Hà Giang gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được gọi một tên chung là cao nguyên Đồng Văn. Ở đây, đá chiếm đến 3/4 đất đai; người, vật, cây cối, sông suối bám vào đá để tồn tại, sinh sôi phát triển. Toàn bộ cao nguyên là di sản đa dạng địa chất, đa dạng cổ sinh địa tầng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế thuộc các lĩnh vực lịch sử tiến hoá của vỏ trái đất.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng.

Thị xã Hà Giang điểm khởi đầu của xứ sở cao nguyên đá. Con sông Lô hiền hoà phân đôi thị xã, phía hữu ngạn sông, phố xá, công sở nằm ven theo các chân dãy núi đá sừng sững; độ cao so với mặt biển của thị xã chỉ khoảng 400 mét, nhưng nhờ núi đá mà mùa hè khí hậu khá mát mẻ, dễ chịu không khác với Đà Lạt, Sapa bao nhiêu. Cao nguyên Núi Đá Đồng Văn là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Ai đến Đồng Văn cũng háo hức chinh phục độ cao của đỉnh kéo đến cổng trời Quản Bạ, dừng chân ngắm cảnh

Rời khỏi thị xã là tiếp cận ngay với thế giới huyền bí của đá và mây trời. Con đường độc đạo từ thị xã qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc khi len lỏi giữa những rừng đá lởm chởm, lúc men theo những vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm; có đoạn lại vượt qua những ngọn đèo cao vút, quanh năm mây phủ dày đặc, dân địa phương gọi đó là cổng trời. Thế giới đá ấy đã hình thành mấy trăm triệu năm trước, trải qua quá trình phong hoá thầm lặng và dữ dội đã tạo thành những khu vườn đá với nhiều hình thù kỳ dị, đặc biệt, hấp dẫn. Đó đây, trong các thung lũng hẹp, lớp lớp các khối đá to nhỏ xếp gối lên nhau giống như những đàn gấu đen bóng, tựa vào nhau đang nằm nghỉ ngơi. Các dãy núi có hình dạng kim tự tháp nối tiếp nhau chạy dài từ nam lên bắc, đỉnh nhọn cao ngất ngưỡng, sườn dốc lởm chởm đá tai mèo. Khắp vùng Đồng Văn, Mèo Vạc lại có những chóp đá, tháp đá có hình dạng ngộ nghĩnh như những nụ hoa, bông hoa hoặc kiểu rồng cuộn, hổ ngồi… sự cấu tạo đa dạng này đã làm cho cảnh quan toàn miền cao nguyên không buồn tẻ, hiu quạnh như các khu vực chỉ thuần đá vôi cổ. Vùng này trước kia trồng nha phiến và buôn ma túy nổi tiếng; nay là vùng định cư của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã trồng rất nhiều đào, mận tam hoa(nectarine), v.v… chúng tôinúi RồngNơi có cột cờ cao 17m treo quốc Kỳ Việt Nam đánh dấu vùng lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc.Sau đó

Cổng Trời Quản Bạ, ngắm Núi Đôi rồi mới khởi hành đi Lũng Cú.

11h30 trưa, chúng tôi đến thị trấn Đồng Văn ăn trưa.

13h30: chúng tôi lên xe đi tham quan Lũng Cú – Mảnh đất Cực bắc của Việt Nam.

14h30: chúng tôi tham quan Cột Cờ trên đỉnh núi Rồng – di tích đánh dấu vùng lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh những vách đá màu xám trắng lại xen kẽ những dãy đồi đá phiến thoai thoải bao phủ một lớp cỏ mượt mà màu xanh lá mạ, khi nắng chiều rải xuống, màn cỏ ánh lên một màu vàng vàng, tim tím cực kỳ huyền ảo. Sông suối chảy qua cao nguyên cũng khá kỳ dị, bí ẩn. Những dòng nước trắng xoá, trong veo đang réo ầm ầm bên chân núi bỗng nhiên mất hút trong lòng núi đá rồi lại hiện ra dưới các hẻm vực vừa dài vừa rộng như một lát dao sắc ngọt xẻ đôi khối núi đồ sộ. Sự đa dạng, phong phú về sinh học của cao nguyên cũng hết sức độc đáo. Xen lẫn giữa những khối núi đá hùng vĩ là các khoảnh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn với nhiều loại gỗ, lâm sản, dược liệu quý hiếm như: nghiến, thông đá, tùng bách, dẻ, thảo quả, hương nhu, đỗ trọng, nấm hương, các loài phong lan v.v… Cao nguyên đá cũng là môi trường thân thiện của trên 50 loài thú, bò sát, chim muông như: sơn dương, gấu, vọc, khỉ, hoẵng, heo rừng, cầy hương, kỳ đà, trăn, gà rừng, trĩ, đại bàng, hoạ mi v.v… Hai loại cây được xem là những cây đặc trưng của vùng cao nguyên đá, gồm đào phai và mận tam hoa, sẽ được trồng dọc tuyến đường vào các điểm du lịch, điểm dừng chân, danh lam thắng cảnh, làng văn hóa du lịch cộng đồng, xung quanh trường học, trụ sở cơ quan, quanh các hồ chứa nước sinh hoạt. Trên đoạn đường phía Tây từ thị trấn Đồng Văn qua Mèo Vạc là ngọn đèo Mã pí lèng, một cảnh quan địa mạo tuyệt đẹp. Đứng trên đỉnh đèo ta có cảm tưởng chỉ vài sải tay là có thể với được tới trời. Dưới chân đèo, bên hữu, ở độ sâu hơn 1000 mét là dòng sông óng ánh bạc Nho quế, con sông lớn nhất của cao nguyên bắt nguồn từ Lũng Cú, luồn lách, ẩn hiện qua nhiều dãy núi đá để đưa nước về hợp lưu với sông Gâm, chi nhánh lớn của Lô giang.

Cùng với những giá trị đặc hữu về địa chất, địa mạo, sinh học, cảnh quan… cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống đẹp đẽ của 22 dân tộc anh em cư trú nơi đây. Từ bao đời nay bà con các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã sáng tạo ra cách sản xuất, cách sống, ăn, ở… riêng biệt để thích nghi với môi trường thiên nhiên.

Từ thị trấn Đồng Văn ngược thẳng về phía Bắc khoảng 20 cây số là xã Lủng Cú, mỏm địa đầu của đất nước, nhìn lên bản đồ Việt Nam, cái chóp nhô cao như một mũi mác, chính là đất Lủng Cú. Những ngọn núi xếp lớp đơn nguyên nơi đây là điển hình của loại đá trầm tích, loại đá cổ nhất của trái đất. Lũng Cú ở độ cao gần 1800 mét. Đứng giữa xứ sở này, ta có cảm giác như đang sống bồng bềnh giữa mây ngàn gió núi; mây trắng bời bời phủ che trên đầu, trôi lững lờ dưới chân, bao quanh lẩn quất bên mình.

Tại thôn Séo Lũng, cách trung tâm xã gần 5 cây số có ngọn núi Rồng, cột cờ Tổ quốc dựng trên đỉnh núi, sát cột mốc số 17 biên giới Việt – Trung. Tên núi Rồng đã có từ lâu đời, do đồng bào địa phương đặt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên núi nơi địa đầu Tổ quốc với dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc ta. Lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54 mét vuông – tượng trưng cho 54 dân tộc anh em ngày ngày kiêu hãnh tung bay giữa trời xanh, khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc ta. Bao thế hệ qua, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, mọi áp lực, những người dân thuộc hai dân tộc kiên cường Mông, Lô Lô ở Lũng Cú đã không tiếc mồ hôi, xương máu để bảo vệ quốc kỳ, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng. Lớp lớp người dân Lũng Cú xứng đáng với niềm tin, sự kính phục của nhân dân cả nước.

Cho đến nay, cảnh vật, con người trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang vẫn giữ được khá đậm đà những nét hoang sơ, kỳ vĩ, tinh khiết có sức lôi cuốn đối với du khách trong và ngoài nước.

Phía tả đèo, một thung lũng hẹp hun hút dưới sâu với đôi ba chục nóc nhà nhỏ tựa lưng vào dãy núi đá vời vợi, một ngôi làng quá heo hút nhưng lại được khá nhiều người không chỉ Hà Giang biết đến, bởi hàng năm ở đây diễn ra một phiên chợ đặc biệt: chợ tình khau vai, mỗi năm chỉ họp một lần vào cuối mùa xuân. Gọi chợ tình là theo nghĩa thông tục, chứ ở đây, người về chợ là để giao lưu tình cảm, tình yêu đôi lứa, không hề có chuyện mua bán hiện đại. Chợ tình khau vai hay gọi đúng hơn ngày hội tình yêu – tình bạn là một trong những nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng của các dân tộc Đồng Văn.

Những ngày hội dân gian, các ngày phiên chợ hàng tháng, người người từ các bản làng gần xa tụ hội về đông vui tấp nập, màu sắc trang phục sặc sỡ, đẹp mắt; cả không gian tràn ngập tiếng cười nói, lời ca ngọt ngào, âm thanh đàn, khèn, sáo du dương, quyến rũ. Người lớn tuổi, thanh niên không phân biệt nam nữ gặp nhau trong các hàng quán bình dân, tuỳ lứa tuổi và sức khoẻ, họ mời nhau chén rượu ngô thơm nồng, bát thắng cố béo ngậy, bát cháo ẩu tẩu vừa có vị đăng đắng lại ngòn ngọt… những món ẩm thực đặc sản, ai được thưởng thức một lần là nhớ mãi….

Điểm cực Bắc của Tổ quốc và cũng là trung tâm của cao nguyên đá là thị trấn Đồng Văn. Nơi đây là xứ sở độc đáo về khí hậu và địa hình “Đất rộng mênh mông nhưng không được bao nhiêu thước bằng phẳng – Trời quanh năm không được vài ngày nắng”. Khu phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 19. Tuy thời điểm xây dựng không đồng nhất nhưng cung cách kiến trúc đều có nét khá tương đồng: nhà hai tầng, tường đá xanh, khung nhà gỗ không có mộng thắt, không chạm trổ cầu kỳ, mái lợp ngói âm dương… Hiện nay còn lưu giữ 20 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Dinh thự họ Vương và khu phố cổ Đồng Văn đã được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Phố thị Đồng Văn còn là nơi tiêu biểu của những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cao nguyên.

Thời Pháp thuộc, Vương Chính Đức đã giành được quyền tự trị đất Đồng Văn. Người kế nhiệm Vương Chí Thành đã ngăn giữ không cho người Nhật xâm nhập vào Đông Văn. Cách mạng tháng 8 thành công, Vương Chí Thành giao đất Đồng Văn cho chính quyền cách mạng quản lý. Bác Hồ kết nghĩa huynh đệ với Vương Chí Thành, những năm 60 thế kỷ trước ông được Bác Hồ mời về sống ở Hà Nội để có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tuổi già.

Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc dân gian dân tộc ấy là dinh thự họ Vương ở Sà phìn, cách thị trấn Đồng Văn khoảng 10 cây số. Đây là dinh thự của Thổ ty Vương ChínhĐức. Đầu thế kỷ thứ 20, khi chấp chính ngôi vị Thổ ty – một chức quan cai trị Đồng Văn, Vương Chính Đức triệu thợ giỏi các tộc người Mông, Lô Lô, Phù Lá… các địa phương trong vùng về xây dựng dinh thự. Toàn bộ 10 ngôi nhà ngang, dọc rộng hơn 1200m2, các dãy nhà phụ, tường rào bao quanh đều xây bằng đá. Từng chi tiết xây cất, đẽo gọt đá, gỗ ván đã thể hiện sự khéo léo, tinh tế, đặc sắc của tay nghề những người thợ dân gian bản địa.

Những khoảnh đất trong các thung lũng giữa trùng vây đá núi được kết cấu thành những mảnh ruộng bậc thang; tận dụng các hốc đá tai mèo, bà con đã gùi đất lên bỏ vào từng hốc để gieo ngô, đậu. Vào mùa hè, mùa mưa ở cao nguyên, lúa, ngô, đậu, lanh, tam thất, hương nhu… trên nương rẫy, hốc đá vách núi tốt tươi xanh mướt hoà lẫn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dại và cỏ mật. Nhà cửa, bờ rào vườn tược, chuồng gia súc đều xây dựng bằng đá. Nghệ thuật kiến trúc đá đã đạt mức độ tinh xảo.

dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn

Trong tour du lịch về miền đá Đồng Văn, Lũng Cú, không ai muốn bỏ qua cơ hội thăm di tích nhà họ Vương, một dinh thự cổ ngủ vùi giữa thung lũng sa mộc, hội tụ nhiều giá trị kiến trúc Trung Hoa và người Mèo Hà Giang. Người ta vẫn gọi đây là dinh vua Mèo.

Mái ngói âm dương phân lớp theo kiến trúc cổ

Dinh vua Mèo ở huyện Đồng Văn, cách Hà Nội chừng 500km, sau khi vượt qua những chặng đường men theo sườn núi, ngoằn ngoèo như những sợi chỉ, vượt qua Cổng trời Quản Bạ. Nơi đây, một thời, ông Vương Chính Đức đóng Cổng trời lại, xưng vương. Miền đá tỉnh Hà Giang hiếm có một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo thế này. Mấy chục năm qua, những ai lên đến Hà Giang thường không bỏ qua di tích này.

Nhà họ Vương nằm nép mình dưới tán rừng cây sa mộc cổ thụ, cao vút. Những phần nhà xuống cấp đã được phục hồi nguyên trạng. Toàn bộ hệ thống tường thành được xếp bằng đá nhẵn thín với phiến đá to, chẳng cần vôi vữa mà vẫn vững chắc. Nhà được bố trí theo kiểu cung điện Trung Hoa, được phân ra nhiều khu: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà kho, phòng của vợ ông Vương Chính Đức, hay nhà thờ. Trước cổng của ngôi nhà là ngôi mộ bằng đá chạm khắc tinh vi, là mẹ ông Vương Chí Sình, đại biểu Quốc hội các khoá I, II, III. Nơi đây còn lưu giữ một số hình ảnh về ông vua mèo oai phong lẫm liệt. Qua cổng chính là đến ba, bốn lần cổng nhỏ. Dọc hai bên hành lang của dãy nhà cao nhất là dãy nhà ngang, nhà dọc, bố trí từ thấp lên cao (theo lối kiến trúc Trung Hoa), phần trên là ảnh thờ ông Đức phóng to khi còn làm bang tá. Có cầu thang đi lên khu pháo đài, lỗ châu mai, có kè đá tảng. Các hạng mục chủ yếu được phục dựng bằng gỗ và đá. Một số đồ dùng xưa như tủ quần áo, lò sưởi của gia đình họ Vương vẫn được lưu giữ như những tín vật.

Sáng ngày thứ 6, chúng tôi dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành đi chúng tôi khởi hành đi chúng tôi tiếp tục khởi hành về thị xã Hà Giang nhận phòng, ăn tối. thăm quan chợ Đồng Văn. Sau đó, chúng tôi thăm Lũng Cú điểm cực Bắc địa đầu tổ Quốc, thăm quan và chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc cực Bắc địa đầu tổ Quốc. Ăn trưa tại thị trấn Yên Minh, sau đó Nghỉ đêm tại Hà Giang.

Sáng ngày thứ 7, dùng điểm tâm tại khách sạn, khởi hành theo quốc lộ 2 qua Chiêm Hoá và đường 279. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng.

đi thuyền Chiều: Tới Ba Bể chúng tôi tham quan dọc theo Hồ 1, Hồ 2 và Hồ 3 tham quan động Puông bí ẩn, thác Đầu Đẳng kỳ vĩ, thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá. Thích nhất là đi du thuyền thăm hồ Ba Bể, hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi đi thăm đảo An Mã, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên trước khi dùng bữa tối & nghỉ đêm tại Ba Bể.

đảo Pò Gia Mải (đảo Bà Goá)

Sáng ngày thứ 8, dùng điểm tâm tại khách sạn, trả phòng, tới Cao Bằng khởi hành đi Cao Bằng theo quốc lộ 3. Qua 250km, chúng tôi TX Cao Bằng

Chiều: Đi thăm khu du lịch thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam nằm ở địa phận xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn . Thác Bản Giốc là thác đẹp thuộc hàng đệ nhất danh thác Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới VN và Trung Quốc, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km, theo tỉnh lộ 206 về phía bắc.Điều thú vị trong chặng đường gần 400 km từ Hà Nội lên tới thác Bản Giốc, là du khách có thể tha hồ ngắm cảnh đẹp. Qua cửa kính xe ô tô, núi rừng hùng vĩ xen kẽ trùng trùng điệp điệp nối vào nhau. Những cánh đồng ngát xanh, vạt hoa dại bên đường, nếp nhà yên bình nép mình bên núi, bầy trâu lọt thỏm giữa cánh đồng làm nao lòng du khách.

Thác Bản Giốc nằm trong dòng chảy sông Quây Sơn, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua biên giới hai nước VN và Trung Quốc, uốn lượn quanh chân núi Cô Muông, qua những cánh đồng thuộc địa phận Đàm Thủy. Gần cuối dòng chảy, dòng sông Quây Sơn đổ từ độ cao hơn 30 mét xuống dưới chân núi tạo thành dòng thác hùng vĩ, sủi bọt trắng xóa. Thác Bản Giốc được chia làm hai phần, phía nam là thác cao, phía bắc là thác thấp. Thác thấp là thác chính, hùng vĩ hơn, tiệp mình vào núi rừng rộng lớn nay đã thuộc TQ. Hôm chúng tôi đến, nhìn từ xa, dòng nước chảy từ trên cao xuống tựa những sợi tơ trắng xóa đang nằm vắt vẻo uyển chuyển trên núi rừng hoang sơ. Nước sủi tung bọt, ầm vang. Ánh nắng hắt trên nước, lấp lánh sáng. Vẻ đẹp, sự thuần khiết, hùng vĩ hòa quyện vào nhau.

Dòng sông dưới chân thác khá phẳng lặng, có thể đi thuyền tham quan. Ở đây có dịch vụ chèo thuyền đưa khách tham quan toàn bộ thác Bản Giốc và những cánh rừng, đồng ruộng bên bờ Quây Sơn. Cuối chiều, mặt trời xuống, ngắm nhìn thác nước tuôn trào, cảm giác thật lạ. Gió biên cương thổi lành lạnh, nhìn mặt sông xanh ngắt, lại ngước lên nhìn dòng nước tuôn trào, tựa như phun ra từ núi, đủ khiến niềm xúc cảm không tên trong lòng trỗi dậy.

Ở Bản Giốc, đến nay vẫn chưa phát triển dịch vụ ăn, ngủ cho khách du lịch. Vì vậy, chiều buông, chúng tôi phải lên xe về lại thị trấn Trùng Khánh tìm chỗ nghỉ ngơi. Nhưng không vì trở ngại nhỏ đó mà du khách phiền lòng. Bởi, chính sự hoang sơ nơi ngọn thác biên cương là điều làm người ta thấy thú vị.

rả phòng rồi khởi hành đi qua 200km để tham quan Pác Bó có nghĩa là “đầu nguồn” theo tiếng bản địa. Nơi đây được coi là cội nguồn của Cách mạng Việt Nam bởi địa danh này gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và cách mạng nước ta những năm 1941-1945, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi của Hồ Chí Minh lúc đó) đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Sáng ngày thứ 9, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi t khu di tích Pắc Bó – nơi ở và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến từ 1941 đến 1945. Quốc Từ thị xã Cao Bằng đi tiếp 52km đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng du khách có thể tới thăm Khu di tích Pác Bó. đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng Tám năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập” – cơ quan truyên truyền của Mặt trận Việt Minh, thành lập đội du kích Pác Bó.

Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Quốc đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Quốc trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đầu tháng 12/1944, tại Nà Sác, Quốc đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 04/05/1945, Quốc rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 20/02/1961, Hồ chí Minh về thăm lại Pác Bó sau 20 năm xa cách.

Sáng ngày thứ 10, dùng điểm tâm tại khách sạn xong rồi đi thuyền tham quan Hồ Núi Cốc ; ăn trưa xong, chúng tôi khởi hành về Hà Nội.

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.

Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

– Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Hmông, Dao, Tày, Giáy… trong đó người Hmông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, còn lại là các dân tộc khác.

– Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất, Lào Cai được chia thành 8 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và thị xã Lào Cai.

– Ngày 7/5/1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

– Ngày 27/3/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 17/4/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 12/8/1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 10/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.

– Ngày 9/ 6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.

– Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

– Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.

– Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

– Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

Thắng cố là một món ăn của dân tộc Mông. Thắng cố biến âm của tiếng Thoảng, cố theo tiếng Mông có nghĩa là “nồi nước”. Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa, cách nấu cũng rất đơn giản. Thịt được ướp với muối, mỳ chính, thảo quả. Sau đó đổ thịt vào trong một cái chảo lớn, đảo đều cho miếng thịt săn lại thì đổ nước vào.

Bây giờ, thắng cố thường không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng có lẽ ngon nhất vẫn là thịt bò. Khi con vật được giết mổ, rửa sạch và để riêng từng bộ phận, lấy xương chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịt chín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào.

Ta có thể thấy niềm vui, sự đam mê, sự trân trọng cội nguồn của từng người Mông khi nấu món thắng cố. Họ cẩn thận ướp gia vị cho từng miếng thịt thơm đậm đà, múc từng muỗng bọt cho nồi nước thêm trong. Nồi thắng cố to sôi lục bục nổi lên những tảng mỡ to màu vàng nhạt điểm xuyến bằng những lá hành xanh ngắt, mùi thơm của thịt, của thảo quả, địa điềm quyện lại khiến ta có cảm giác chìm đắm trong tinh hoa thiên nhiên của đất trời ban tặng.

Vào quán gọi món thắng cố, ít phút sau thắng cố được mang lên. Đó là một cái nồi lẩu, như mọi cái nồi lẩu khác. Nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút, chỉ cần ngửi mùi thôi là cảm giác thèm ăn trỗi dậy.

Chai rượu được rót ra. Đây là rượu nấu bằng gạo, nhưng không phải là thứ men như ở dưới xuôi. Nó trong vắt, thơm ngái một chất lá và được giới thiệu là uống không bao giờ đau đầu.

Lượt thứ nhất lách cách cụng, dốc ngược đáy chén. Rồi những đôi đũa thay nhau lật tìm trong nồi lẩu ăm ắp. Đây là miếng dạ dày, đây là miếng ruột non, đây là miếng tiết, đây là miếng gan… Còn đây miếng cật, miếng tim, miếng vai… Tất cả được thái nhỏ, vừa gắp. Đúng là có mùi là lạ, đặc trưng, nhưng ăn được ngay, thấy ngon được ngay. Lại thêm bát tương, thìa gia vị, miếng chanh, lát ớt, đĩa rau thơm, rổ rau cải… Cái món thắng cố xa lạ đã thành gần gũi. Rượu cứ thế rót ra nhộn nhịp, thôi thì đủ lý do để dốc ngược chén cùng nhau. Uống rồi bắt tay, bắt tay thật chặt. Người ta bảo uống rượu Tây Bắc là uống mỏi tay.

Vào một ngày đông lạnh giá còn gì thú vị hơn là ngồi ăn một tô thắng cố nóng hổi, nhấm chén rượu ngô nóng, hàn huyên cùng bạn bè. Đây cũng là một nét văn hoá rất điển hình trong phong cách sống của người Mông.

Du khách đến Tây Bắc, lên những dãy núi hùng vĩ, ngồi bên hồ nước trong vắt và trong những niềm vui giản dị đơn sơ là bát thắng cố và rượu ngô nóng. Mùi thơm ấy, hương vị đậm đà quyến rũ ấy có lẽ sẽ không bao giờ quên được, nó sẽ đọng lại trong mỗi người khách khi đặt chân lên vùng đất đẹp và hiền hoà này.

Làng Cát Cát thuộc huyện Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa-Pa 2km.

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống

Bản Cát Cát trong sương sớm

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng… Kiến trúc nhà cửa của đồng bào nơi đây còn nhiều nét cổ như nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu hay bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang…

Làng Cát Cát có 100% đồng bào dân tộc Mông với nghề thủ công truyền thống là nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

Trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm –

sản phẩm thủ công truyền thống của bản Cát Cát

Một điều hấp dẫn nữa của làng Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ hay các lễ hội được tổ chức vào các thời điểm đầu xuân hoặc tháng cuối hè và mùa thu. Tuy chỉ có quy mô nhỏ và diễn ra trong phạm vi của làngvới các nghi lễ cúng “thổ ty” – “thổ địa” – những vị thần được thờ là những người có công lập làng nhưng mang đậm nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng độc đáo của dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam.

Tôi cũng có dịp tìm hiểu về các món ăn độc đáo của dân tộc Mông. Người Mông ở Cát Cát có rất nhiều món ăn với cách chế biến phong phú độc đáo: rượu ngô Mông, thắng cố, thịt hun khói “khăng gai”, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, món đậu xị…

Cát Cát là điểm du lịch tìm hiểu văn hóa người dân tộc gắn với thiên nhiên hoang sơ, một địa chỉ thích hợp cho những khách du lịch đã mệt mỏi với đời sống đô thị.

đi qua cầu treo tới thăm thuỷ điện cũ của người Pháp. thác Cát Cátt nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn

Chiều: chúng tôi đi mua sắm đồ lưu niệm tại chợ Sapa, khám phá thị trấn Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi chơi quanh thị trấn Sapa, tham gia phiên chợ vùng cao cùng đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, mua sắm các mặt hàng lưu niệm tại chợ Sapa, ăn trưa tại nhà hàng địa phương trước khi làm thủ tục trả phòng và trở lại thành phố Lào Cai. Chúng tôi ghé ăn trưa và mua sắm tại Chợ Mậu Biên Cốc Lếu. Ăn tối tại nhà hàng thành phố Lào Cai trước khi đáp chuyến tàu về Hà Nội. Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến đi từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn

Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là Đông Bắc để phân biệt với vùng Tây Bắc, còn thực chấ vùng Việt Bắc. Vùng Đông Bắc là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng). Đôi khi vùng Đông Bắc bao gồm cả Đồng bằng sông Hồng.

Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.

Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000-1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.

Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.

Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là “vùng trung du”. Độ cao của phần này chừng 100-150 m.

Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…

Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

Nhà thờ đá Sa Pa

Lịch sử

Cơ sở lục địa của miền Đông Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền Đông Bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.

Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0 °C và có mưa tuyết thậm chí tuyết. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Phá đường” từng nhắc đến cái rét ở đây: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”.

Phạm vi hành chính

Sắc tộc và văn hóa

Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như “Hà Giang quê hương tôi” và còn rất nhiều bài hát khác.

Vùng Đông Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Đông Bắc do Quân khu 1 bảo vệ.

Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở : Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v… Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v… Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc.

vườn Quốc gia Ba Bể (cách Hà Nội khoảng 250 km), thăm Bến Chòi.

Đến với Ba Bể, du khách có dịp du ngoạn trên hồ bằng thuyền độc mộc để cảm nhận và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên với Động Puông, Ao Tiên, Thác đầu Đẳng, Bản Pác Ngòi, tìm hiểu cuộc sống, văn hoá cũng như tập quán của các bản làng dân tộc sống trên triền núi bên hồ.

Thác Bản Giốc – Một trong những dòng thác hùng vĩ nhất Việt Nam tại biên giới Việt – Trung, thăm động Ngườm Ngao.

Ngày 04: Cao Bằng – Lạng Sơn – Hà Nội (Ăn sáng,trưa)

11h00: Đến Lạng Sơn quý khách dùng cơm trưa tại nhà hàng. Chiều mua sắm tại chợ Đông Kinh. 15h00: Xe đưa quý khách về Hà Nội, dừng chân tại Thị Trấn mẹt nghỉ nghơi, mua các sản vật địa phương.

19:00 Về đến Hà Nội. Chia tay quý khách. Kết thúc chương trình.

Đường lên Đồng Văn uốn lượn, điệp trùng với đá và đá

Thắng cố – món ăn truyền thống của người dân tộc tại chợ phiên Đồng Văn

Một ngôi nhà cổ tại Đồng Văn, được xây bằng tường trình – là đất nện theo khuôn – giúp cho đông ấm, hè mát

Có được tour “đi núi, về sông” ấy là nhờ từ đầu 2008, khi cửa đập thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) đóng lại, mực nước khu vực lòng hồ dâng lên giúp thông suốt tuyến đường nối huyện Bắc Mê (Hà Giang) với Na Hang theo sông Gâm và nối với hồ Ba Bể qua sông Năng.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng – cực Bắc của tổ quốc – với lá cờ có diện tích 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Để leo lên đến nơi, bạn phải trèo qua 283 bậc thang

Vì thế tuyến đường thủy Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Kạn được kéo lại gần. Một công ty lữ hành phía Nam đã phát hiện ra hành trình này, sau nhiều lần thử nghiệm, quyết định đưa vào khai thác tour từ cuối năm 2010.

Dòng Nho Quế uốn lượn quanh các vách núi dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng

Bắt đầu hành trình vượt sông Gâm, sông Năng vào hồ Ba Bể

Núi đã vôi trên sông Gâm, cảnh đẹp không khác vịnh Hạ Long

Những gốc cây còn sót lại của khu rừng nguyên sinh bị dòng sông vùi lấp

Nếu sông Lô lững lờ lượn dọc con đường lên với Đồng Văn, sông Nho Quế như dải lụa vắt ngang những dãy núi dựng đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, thì sông Gâm, sông Năng… hoang sơ, bình yên đến kỳ lạ. Đó là nhờ dòng sông ấy nằm lọt giữa khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bu.

Một ngôi chùa trầm mặc giữa lòng sông

Tàu chở khách cứ thế lướt nhẹ giữa hai bờ là núi đã vôi ẩn hiện. Lấp ló đâu đó vài chiếc thuyền buông lưới. Một vài gốc cây khô trơ trọi đột ngột hiện trên mặt nước như tiếc nuối cái thuở còn là nguyên sinh, nay đã bị sông vùi lấp. Một đàn trâu thơ thẩn gặp cỏ ven sông… Trong khung cảnh thơ mộng ấy, muộn phiền của cuộc sống thường nhật tan biến.