Củ Sâm Đất Có Tác Dụng Gì , Củ Sâm Đất Ngâm Rượu Có Tác Dụng Gì

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Cây Sâm Đất Trị Bệnh Thần Kỳ Tại Nhà
  • Cách Nấu Canh Rau Sâm Tôm Ngon Mát
  • Top 9 Tác Dụng Của Cây Rau Sam Đất
  • Lạ Miệng Với Canh Cá Nướng Rau Sam
  • Không Phải Nguyên Liệu Cầu Kỳ, Đây Mới Là Thứ Khiến Nồi Cá Kho Của Bạn Ngon Nhất!
  • – Cây rau sâm đất là tên gọi chung cho một vài loài cây có rễ tạo thành củ và có tác dụng chữa bệnh trong Đông Y. Cây rau sâm đất mọc tập trung nhiều ở các nước Đông Nam Á , phía nam Trung Hoa và Nam Ấn Độ , ở Việt Nam thì cây hầu như mọc khắp mọi nơi và có nhiều công dụng trong cuộc sốn hằng ngày. Cây sống ở độ cao trung bình, nơi có khí hậu ẩm nóng và mưa nhiều . Tuy nhiên cây rau sâm đất không chịu được ngập ún.

    – Về tên gọi thì tùy theo vùng miền sẽ có nhiều tên gọi cho cây sâm đất như : sâm nam . thổ nhân sâm, thổ cao ly . sâm mồng tơi . Ở một số tình miền Trung Việt Nam đôi khi cây sâm bố chính cũng có tên gọi là sâm đất .

    – Đặc điểm chung của cây sâm đất như :

    +Có rể mập thành củ , hình trụ , thon dài . Trong rễ chứa nhiều dưỡng chất như protein, vitamin, đôi khi có cả saponin. Rễ có màu vàng đất.

    +Thân cây cao dưới một mét , thân thảo và sống 1 năm hoặc nhiều năm

    + Lá có màu xanh lục , lá đa phần có chứa chất nhầy

    + Hoa có màu tím , đỏ , hồng.

    Củ sâm đất có tác dụng gì ?

    Củ sâm đất có tác dụng gì

    – Củ sâm đất thường có vị thanh ngọt, tính bình . Nên thường dùng chữa các bệnh về thận suy, giảm căng thẳng , cao huyết áp . Củ sâm đất có thể dùng một mình mà không cần các vị thuốc khác hỗ trợ .

    – Lá củ cây sâm đất thường dùng ăn sống hoặc nấu canh có tác dụng bồi bổ cơ thể.

    Củ sâm đất ngâm rượu giúp trị ho, số ở trẻ em.

    – Hoa sâm đất hoặc lá có thể dùng làm trà giúp thanh nhiệt cợ thể.

    -Chữa sỏi thân với cây sâm đất phơi khô và tán nhiễn dùng 10g pha với nước ấm , uống ngày 2 lần cho đến khi bệnh tình thuyên giảm.

    Củ sâm đất có mấy loại , cây sâm đất có mấy loại ?

    -Cây sâm đất nhìn chung sẽ có 5 loại khác nhau : nhưng sẽ có 3 loại hình dạng na ná nhau , còn 2 loại sâm tanh tách và sâm bố chính thì có hình dạng khác nhau và khác so với 3 loại còn lại về dáng cây . Nhưng nhìn chung tác dụng chữa bệnh là giống nhau.

    -Cây sâm đất với tên gọi sâm nam hay thổ cao ly có 2 loại

    + Loại 1 là cây có lá thon dài từ 5-7cm . hoa nhỏ có năm cánh màu hồng ,

    +Loại 2 là cây có lá màu xanh thẩm hơn loại 1. Hoa rất nhỏ và li ti

    Củ sâm đất có tác dụng gì ?

    -Cây sâm đất có tên gọi sâm mồng tơi

    + Loại sâm thứ 3 này có lá giống lá mồng tơi , loại này hiếm gặp và củ khá nhỏ. Thường dùng lá và thân để làm rau nấu canh hoặc xào với thịt. Thân có dạng dây leo, và hoa mọc ra từ nách lá.

    Sâm đất có tác dụng gì ?

    -Cây sâm đất với tên gọi sâm bố chính

    + Khu vực các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Quảng Bình đến Phú Yên thì cây sâm bố chính hay sâm báo , thường được người dân có tên khác là sâm đất . Ờ các khu vực này thì cây sâm đất xem là cây bản địa. Với dáng cao không quá 1m và hoa màu đỏ rực , cộng thêm vào củ vừa có giá trị thẩm mỹ vừa có giá trị y học . Cây sâm đất ( sâm bố chính) là loại cây được xem là có giá trị kinh tế cao và phân bố rộng rãi và nhiều nhất trong 5 loài cây được gọi tên là sâm đất.

    + Cây sâm bố chính là loại cây sống lâu năm . phần thân mới sẽ mọc ra từ củ hoặc gốc khi thân già đi. Sâm bố chính có củ hình trụ dài từ 20-30cm, vỏ màu vàng đất hoặc nâu đất . Củ chia ra thành nhiều nhánh con. Phần lỗi bên trong chứa nhiều chất nhầy và protein , acid amin và saponin. Thân sâm bố chính có lông tơ, vỏ thân chứa chất nhầy , Thân chia làm nhiều nhánh , và là mọc so le. Lá hình trái tim và chìa làm 5 cánh. Hoa sâm bố chính có màu đỏ và có 5 cánh . Trái sâm có 5 khía và mỗi khía là 1 khoan chứa hạt. Có khoản 15-30 hạt. Hạt sâm có màu xám đen hình giống bao tử.

    +Cây sâm bố chính có nhiều ứng dụng trong cuộc sống ,như : Củ chữa các bệnh về thận , hoa làm trà giúp thanh lọc cơ thể, thân làm nước uống. Đôi khi sâm bố chính trồng dùng lảm cây cảnh , Củ sâm dùng chế biến các món ăn trong ẩm thực.

    Sâm bố chính ngâm rượu có tác dụng gì

    -Cây sâm đất với tên gọi cây sanh tanh tách hay cây trái nổ

    + Loại sâm này có hoa màu tím đặt trưng và hình dáng hoa giống ho loa kèn, Cây rất rễ sống , thich nghi với điều kiện nắng gắt và độ ẩm cao. Cây trái nổ có thân nữa bò nửa đứng, và có xu hướng thành bụi. Thân có lông tơ nhỏn, màu xanh lục và cao khoản 60cm. Lá cây trái nổ có màu xanh , dài 4-5cm rộng 1.5-2.5cm. Lá mọc đối và chia cây ra thành từ đoạn . Hoa cây trái nổ nở và tàn trong ngày , tạo thành trái, trái non có màu xanh, trái khô già có màu đen .Trái nhỏ hẹp. Trong trái chứa nhiều hạt nhỏ như hạt mè.

    +Cây trái nổ thường dùng làm nước uống giúp trị thận , trị huyết áp.

    -Về cách thu hoạch sâm đất , chúng ta cần chọn thu cây từ hơn 1 năm , và chọn những lúc cây ít lá non và hoa để thu.

    – Sau khi thu hoạch xong , cần rửa sạch bằng nước sạch, và ngâm trong nước vo gạo 2-3h cho giảm bớt chất nhầy. Nếu dùng ngâm rượu thì có thể sao vàng hạ thổ hoặc phơi khô hay thái lát.

    Cách chế biến củ rau sâm đất

    -Đối với lá và hoa thì có thể thu hoạch quanh năm. Tuy nhiên khi thu hoa thì nên chọn trước 10h và lúc hoa sắp nở.

    Củ sâm đất ngâm rượu có tác dụng gì , Cách ngâm rượu sâm đất.

    -Về rượu sâm đất là một bài thuốc hữu hiệu cho nhiều căng bệnh như ho, kinh nguyệt không điều, sốt, huyết áp cao, tiểu đường

    Rượu sâm đất có tác dụng gì ?

    -Cách ngâm rượu sâm đất cũng không cầu kỳ , nguyên liệu chuẩn bị là sâm đất và rượu trắng, nếu muốn tăng thêm hương vị có thể cho thê mật ong , gừng hay sâm cau đỏ

    -Các bước ngâm rượu sâm đất gồm :

    • Chọn lựa củ sâm , có thể dùng củ sâm đất tươi hoặc khô
    • Có thể sao vàng hoặc thái mỏng
    • Ngâm với hỗn hợp rượu trắng 40 độ , theo tỉ lệ 1;2
    • Sau 3-4 tháng có thể dùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Làm Món Rau Câu Dừa Một Cách Dễ Nhất
  • Nấu Xu Xoa Từ Bột Rau Câu
  • Cách Làm Món Xu Xoa (Xa Xa) Từ Rong Biển Thanh Nhiệt Mát Họng Cho Mùa Hè Này
  • Mặt Nạ Rong Biển Dạng Bột
  • 3 Cách Làm Trứng Cuộn Đơn Giản Nhất Ngay Tại Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Ngon Giải Nhiệt Cực Tốt

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Nấu Nước Sâm Đường Phèn Giải Khát, Thanh Nhiệt Cơ Thể
  • 【 Review 】5+ Cách Nấu Nước Sâm Đơn Giản Ngay Tại Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Lạnh Đơn Giản, Bổ Dưỡng
  • Công Thức Và Cách Nấu Nước Sâm
  • Cách Pha Chế Nước Ép Khổ Qua Nhân Sâm
  • Hay phải bổ sung thêm một ít rong biển để tận dụng muối thiên nhiên bổ sung cho natri và chất khoáng bị mất đi qua mồ hôi không?

    – Rễ tranh 1 bó nhỏ ( các mẹ có thể mua ở chợ hoặc vào tiệm thuốc bắc)

    – 15g rong biển (mua ở hàng khô ngoài chợ). Ngâm qua đêm vào nước vo để rửa sạch cát

    – Mía lau 2 khúc

    – 7 lá dứa thơm

    – 1 nắm râu ngô

    – Đường phèn

    Cứ thế mình cho tất cả các nguyên liệu trên vào xoong nấu lên 15 phút rồi cho đường phèn vào.

    Sau đó, mình để nguội rồi cho nước vào chai lọ… để trong ngăn mát tủ lạnh. Mỗi khi đi ra ngoài về, mình thường uống để giải nhiệt.

    Sâm bí đao là loại thức uống rất mát cho những ngày nắng nóng và cũng là 1 món cần chú ý với những chị em phụ nữ thích làm đẹp, bí đao có tác dụng giảm cân và làm đẹp da đồng thời hàm lượng vitamin trong bí đao cũng rất đáng để chúng ta quan tâm

    Các bước thực hiện

    Đợi nồi bí giảm nóng thì lược bỏ xác bí, lấy phần nước cho đường vào khuấy tan và cho vào tủ lạnh để uống dần. Để tủ lạnh có thể dùng đc 3 đến 5 ngày Nếu thích khi uống có thể cho thêm đá.

    Chia sẻ: Nếu thích nước sâm có màu đậm hay nhạt hơn thì có thể gia giảm thục địa tùy thích (nếu có tăng cũng tăng 1 – 2gr thôi, tăng nhiều thục địa nước sâm sẽ có vị hơi đắng nhẹ ko ngon nữa). Đường cũng thế, tùy khẩu vị từng gia đình mà gia giảm.

    Chưa đầy 30 phút và thật đơn giản bạn đã có thể tự làm món sâm bí đao mát lạnh thay đổi khẩu vị của những ly nước chanh, cam,…cho cả gia đình trong những ngày nắng nóng mà hoàn toàn yên tâm ko sợ hóa chất, chất bảo quản, đường hóa hoc….

    Nguyên liệu

    200 g rong biển ngâm trong nước cho sạch và thường xuyên dùng tay đảo nhẹ cho sạch cát, ngâm trong vòng 30 phút.

    100 g râu bắp rửa sạch

    100 g mã đề rửa sạch

    100 g đường phèn

    20 g bông ngò

    100 g lá dứa rửa sạch

    10 g hoa cúc khô

    1 trái la hán quả cho vào bao, đập nhuyễn

    3 – 4 lít nước lọc

    Thực hiện

    1. Cho từ 3 – 4 lít nước vào nồi đun sôi. Sau đó, cho rong biển và la hán quả vào đun sôi khoảng 20 phút nữa. Cho râu bắp vào đun sôi.

    Cho tiếp lá dứa, mã đề, vào đun sôi. Cho 10 g bông cúc vào nồi để thêm 10 phút rồi tắt bếp.

    2. Cho bông ngò đã cắt nhỏ và đường phèn vào một nồi khác. Lược hỗn hợp nước vừa nấu cho vào nồi đường phèn + bông ngò, quậy cho tan đường.

    Để khoảng 10 phút rồi lược lại lần nữa vớt hết bông ngò ra. Để nguội, chiết vào chai cho vào tủ lạnh.

    Mẹo vặt

    Món thức uống rong biển – hoa cúc có tác dụng thanh nhiệt, mát gan, dễ ngủ, ngừa bướu cổ, đẹp da và giải khát ngay tức thì.

    Đập la hán quả càng nhuyễn càng tốt vì để nguyên quả nấu, nước sẽ không thơm.

    Râu bắp và lá dứa sẽ khử được mùi tanh của rong biển.

    Ngâm hoa cúc quá lâu, nước mát sẽ bị đục và mau hỏng.

    Có nhiều cách để chúng ta chế biến và sử dụng nhân sâm, sau đây là một vài món ăn được chế biến với sâm giúp ta vừa ngon miệng vừa có một sức khoẻ tốt.

    Canh Nhân Sâm Hạt Sen

    Nguyên liệu: 3g nhân sâm, 30 hạt sen, đường phèn vừa đủ.

    Cách làm: đem nhân sâm bỏ vào bát nhỏ, đặt vào nồi hấp mềm rồi thái miếng mỏng. Lấy 10 hạt sen, bỏ vào bát đựng miếng nhân sâm, đổ nước vào ngâm, rồi cho nước đường phèn vào đậy nắp hấp cách thủy 1 giờ, ăn hạt sen, uống nước canh. Ngày hôm sau cho 10 hạt sen vào bát đựng miếng nhân sâm còn hôm trước, đổ thêm nước đường phèn vào đậy kín, hấp cách thủy 1 giờ, lấy ra ăn hạt sen uống nước canh. Ngày thứ ba cũng làm như vậy với 10 hạt sen còn lại.

    Nhân sâm có thể điều tiết chức năng của hệ thống thần kinh, chủ yếu là tăng cường quá trình hưng phấn ở vỏ ngoài đại não đối với hệ thống trung khu thần kinh, đồng thời cũng có thể tăng cường quá trình ức chế, từ đó cải thiện hoạt động linh hoạt của hệ thống thần kinh.

    Hạt sen và nhân sâm đều là đồ ăn ngon, đem hấp cùng đường phèn, tác dụng của nó càng rõ rệt hơn, có thể nâng cao hiệu suất công tác của những người lao động trí óc. Do hạt sen, nhân sâm có rất nhiều chất bổ, nên những người bị bệnh thấp nhiệt, nóng trong hoặc có ứ trệ bên trong cơ thể không nên ăn, người bị cảm chưa khỏe hẳn cũng không nên ăn.

    Cháo Nhân Sâm

    Nguyên liệu :Bột nhân sâm 3g, gạo tẻ 100g, đường phèn vừa đủ.

    Cách chế biến :

    Một loại thức ăn rất bổ dưỡng, thích hợp với người già yếu, có các chứng suy yếu khí huyết và tân dịch như ngũ tạng suy nhược, mỏi mệt hư tổn, ăn uống không ngon miệng, tâm hoảng, thở dốc, mất ngủ, hay quên, hoạt động sinh dục suy yếu.

    1. Vo sạch gạo, trộn với bột nhân sâm, cho vào nồi đất hoặc nồi nhôm, cho thêm đủ nước.

    2. Đun to lửa cho sôi, chuyển sang nhỏ lửa sắc cho tới lúc cháo chín.

    3. Cho đường phèn và nước vào một nồi khác, nấu thành nước đường đặc, rồi đổ từ từ vào cháo đã chín, khuấy đều thành cháo đường.

    4. Trong khi nấu cháo phải tránh dùng các dụng cụ bằng sắt.

    Cách dùng: Nên ăn lúc đói, hai bữa sáng tối trong mùa đông.

    Chú ý: Những người thể chất âm hư hỏa vượng hoặc người trung niên, người cao tuổi khỏe mạnh cường tráng không nên dùng, cũng không nên dùng trong mùa hè nóng nực. Khi ăn cháo nhân sâm, không được ăn củ cải và uống nước trà.

    Nhân Sâm Nấu Tôm

    Hương vị đậm đà, thơm mềm bổ dưỡng.

    Nguyên liệu:

    – 1 củ nhân sâm nước (nặng khoảng 1kg), 25g tương, 25g đường cát trắng, 5 g bột ngọt, 25g dầu hành, 25g bột bắp hòa nước, 10g rượu vang, 25g hành tím xắt lát, 150g nước thịt kho tàu.

    Cách làm:

    – Nhúng củ nhân sâm vào chảo đang sôi, vớt ra để ráo dầu. Chiết dầu dư trong chảo ra, chừa lại một ít, cho hành tím vào xào qua cho thơm, cho tiếp nước thịt kho tàu, rượu vang, đường cát trắng, tương, tôm và củ nhân sâm vào nấu trong 5 phút, rồi cho bột ngọt vào, nước bột bắp vào nấu cho đến khi sệt lại thì cho dầu hành vào, bắc chảo xuống bày món ăn ra dĩa.

    Yến sào nhân sâm gà ác táo đỏ (món ăn bổ khí – huyết, tốt nhất dành cho phụ nữ sau khi sanh)

    Một trong những món ăn tuyệt vời là yến sào nhân sâm, được chế biến như sau:

    Thành phần:

    * Yến sào: 10g

    * Gà ác nhỏ: 1 con

    * Táo đỏ: 10 trái

    * Nhân sâm: 20g

    * Trần bì: miếng nhỏ

    * Muối ăn: một ít

    Cách nấu:

    – Gà ác làm sạch lông. Rửa và ngâm táo tàu cho nở, bỏ hột. Trần bì rửa sạch, nhân sâm cắt lát mỏng.

    – Đổ vào nồi hai chén nước và cho tất cả vào chung chưng cách thuỷ khoảng hai giờ. Sau đó mới cho yến sào (đã được ngâm nước ngay từ khi làm bếp) vào tiếp tục chưng cách thuỷ thêm hai giờ nữa. Cuối cùng nêm ít muối vào cho vừa ăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Bạn Cách Nấu 5 Loại Nước Sâm Thanh Mát Giải Nhiệt Mùa Hè
  • Mách Bạn Cách Nấu 5 Loại Nước Sâm Thanh Nhiệt Cơ Thể
  • Cách Nấu Nước Sâm Lạnh (Nước Mát) Giải Khát Tại Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Ngon Nhất Giúp Bạn Giải Nhiệt Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Nước Sâm Mía Lau Thơm Bổ Tại Nhà
  • Tổng Hợp Cách Nấu 17 Món Chè Đậu Xanh Ngọt Mát Thơm Ngon

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Món Chè Làm Từ Đậu Xanh
  • 1️⃣【Cách Nấu Chè Đậu Xanh Sóng Sánh, Vàng Tươi 】® Thedrunkenpot
  • Cách Nấu Chè Thốt Nốt Đậu Xanh Sữa Tươi Dẻo Mềm Ngon Mang Hương Vị Ẩm Thực Miền Tây
  • Cách Nấu Chè Đậu Xanh Đánh Với 3 Công Thức Nhuyễn Mịn Siêu Ngon
  • Cách Nấu Chè Đỗ Xanh Mã Thày
  • Không đòi hỏi cầu kỳ và công phu, bạn đã có ngay những ly chè ngon tuyệt và bổ dưỡng!

    – 400 g đậu xanh đã chà vỏ.

    – 150 g dừa nạo.

    – 200 g đường cát trắng (hoặc đường phèn).

    – 1 ống vani, bột sắn dây (hoặc bột năng/ bột bắp), muối.

    – Đậu xanh cà vỏ ngâm với nước lạnh, nhặt bỏ những hạt đậu nổi lên bề mặt nước (những hạt này khi nấu sẽ có vị đắng làm chè không ngon). Ngâm khoảng 3 – 4 tiếng cho hạt đậu nở to rồi vớt ra rổ/rá, rửa sạch lại với nước và để cho ráo.

    – Dừa nạo ngâm với 1 chén nước nóng khoảng 30 phút sau đó vắt lấy phần nước cốt.

    – Trút đậu xanh vào nồi và đổ nước cho ngập hạt đậu khoảng 1 cm, cho vào 1 chút muối và 100 g đường nấu 20 phút cho sôi (để đường ngấm vào hạt đậu trong quá trình đậu nở mềm).

    – Bột sắn dây hay bột năng/bột bắp pha với chút xíu nước rồi đổ từ từ vào nồi đậu xanh, vừa đổ vừa khuấy cho tới khi nồi đậu đạt độ sánh như ý.

    – Nấu chè đậu xanh nước cốt dừa bạn dùng bột sắn dây là ngon nhất, vì pha vào nước sẽ không bị vón cục, nấu lên lại thơm và vị chè rất ngon, thêm tính mát.

    Nước cốt dừa pha cùng một chút bột sắn dây và đường, đun sôi trên bếp cho hơi sánh lại, thêm vào 1 ống vani và tắt bếp.

    Múc đậu xanh ra chén, thêm nước cốt dừa vào và thưởng thức. Nếu muốn ăn lạnh bạn có thể bảo quản đậu đã nấu chín trong tủ lạnh cũng sẽ rất ngon và mát.

    2. Chè đỗ xanh rau câu cốt dừa

    – Thạch sương sáo trắng: 1 gói

    Bước 1: Đỗ xanh vo sạch, ngâm vào âu nước lạnh khoảng 2 tiếng rồi cho vào nồi ninh đun sôi. Đến khi hạt đỗ chín mềm thì hạ lửa.

    Bước 4: Khi bột rau câu tan hoàn toàn đổ ra bát để nguội cho thạch đông lại, cắt hạt lựu rồi để vào ngăn mát tủ lạnh.

    Bước 5: Đậu phộng xát bỏ vỏ (có thể giã dối nếu thích).

    Bước 6: Với phần nước cốt dừa: cho ½ bát nước lọc nhỏ cùng nước cốt dừa và 3 thìa bột ngô, 2 thìa đường cát. Đun nhỏ lửa đến khi hỗn hợp sền sệt, tắt bếp để nguội.

    – 1 lá nha đam, khoảng 500 gr

    – 200 gr đậu xanh xát vỏ

    – 100 gr bột sắn dây hoặc bột năng

    Bước 1: Nha đam bỏ phần vỏ xanh, chỉ lấy phần thịt trắng bên trong, xắt hạt lựu. Ngâm nha đam vào 1 bát nước có vắt ½ quả chanh và 1 thìa đường trong 30 phút. Sau đó bóp cho hết nhớt và rửa lại với nước sạch. Đỗ xanh đã xát vỏ ngâm trong nước lạnh khoảng 2 giờ, vo sạch lại với nước.

    Bước 2: Đổ nước và đậu xanh vào nồi, đun đến khi đậu xanh chín nhừ thì thêm đường vừa khẩu vị, trong quá trình đun bạn nhớ hớt bỏ bọt nhé.

    Bước 3: Bột sắn hòa tan với 1 chút nước, cho vào nồi đậu xanh, vừa đổ vừa khuấy đều cho đều bột sắn, không bị vón cục. Cuối cùng cho nha đam vào nồi, đợi sôi lại thì tắt bếp.

    Bước 4: Múc chè nha đam đậu xanh ra từng bát, để nguội, khi ăn có thể thêm dầu chuối và chút đá nếu bạn thích ăn lạnh.

    – Nước cốt dừa, đường, vani, tí xíu muối.

    – 50gr agar agar hoà chung 240ml nước khuấy đều, bắt lên bếp nấu 10 phút sau đó đổ ra bát cho vào tủ lạnh. Khi thạch đông, bào sợi.

    – Bí đỏ bỏ vỏ cắt quân cờ, đậu xanh rửa sạch. Đậu xanh, bí đỏ cho vào nồi và đổ nước qua khỏi mặt đậu xanh và bí đỏ cỡ 5cm nấu lửa trung bình trong 20 phút đậu xanh sẽ nở, bí đỏ sẽ chín. Hớt bọt trong quá trình nấu.

    – Khi đậu xanh và bí chín, cho 1/2 muỗng cafe vani, đường theo khẩu vị và thêm ít muối để vị cân bằng. Sau cùng cho sữa tươi.

    – Chè bí đỏ đậu xanh có thể ăn nóng hoặc ăn với đá bào. Khi ăn cho thêm rau câu sợi, nước cốt dừa và rắc tí hạt mè.

    5. Chè đậu xanh trân châu thạch đen

    – Đậu xanh nguyên vỏ: 150 gr

    – Thạch đen sương sáo: 1 gói 50 gr

    – Đường, tinh dầu chuối.

    Bước 1: Đậu xanh vo sạch, ngâm nước khoảng 2 – 3 giờ.

    Bước 2: Cho đậu vào nồi, đun sôi. Khi đậu sôi hạ nhỏ lửa để hầm cho đậu chín, nở bung vỏ là được.

    Bước 3: Trong thời gian chờ đậu chín thì làm thạch đen theo hướng dẫn trên mỗi gói.

    Bước 4: Làm trân châu: đun sôi nước, đổ từ từ vào bát bột năng và nhào.

    Bước 5: Khi nào thấy bột không dính tay là đạt.

    Bước 6: Nặn bột năng thành từng viên vừa ăn.

    Bước 7: Đun sôi nồi nước nóng già, thả trân châu vào luộc cho đến khi thấy trân châu nổi hết lên, hạt trong là trân châu đã chín.

    Bước 8: Vớt trân châu ra 1 bát nước lạnh để trân châu nguội và không dính.

    Bước 9: Khi đậu xanh đã chín nhừ, thêm đường vừa miệng ăn. Thêm bột sắn đã hòa tan để chè được sánh. Khi ăn múc ra từng bát, thêm trân châu, thạch đen xắt miếng vuông vừa ăn và ít dầu chuối.

    200g đậu xanh (ít nhiều tùy số người ăn)

    100g đường kính trắng (đường phèn)

    Bước 1: Ngâm đậu xanh vào trong nước lạnh hoặc nước nóng đều được, nhặt bỏ những hạt đậu nổi trên mặt nước, sau đó ngâm đậu cho hạt nở to rồi vớt ra vo sạch. Chọn hạt đậu to tròn và mẩy

    Bước 2: Cho đậu xanh đã vo sạch vỏ vào nồi đun khoảng 20 phút thì cho đường. Nêm cho vừa khẩu vị rồi đun tiếp 15 phút nữa cho hạt đậu nở hết cỡ. Sau khi vo hết vỏ thì cho vào nồi đun

    Bước 3: Pha bột sắn vào nước, rồi cho vào nồi quấy đều, nhanh tay cho bột sắn chín đến khi thấy sóng sánh là được. Bột sắn dây pha ra nước sẽ không bị vón cục và nhanh chín hơn

    Bước 4: Cho ra bát và cho chút nước cốt dừa, trộn đều và thưởng thức. Món chè đậu xanh đơn giản và ngon tuyệt vời. Hãy cảm nhận vị thơm của đậu xanh và nước cốt dừa, độ sánh dẻo và mát lịm của bột sắn dây.

    Bước 1: Đỗ xanh vo sạch ngâm nước ấm khoảng 1 – 2 giờ.

    Bước 2: Khoai sọ gọt vỏ cắt khúc ngắn, ngâm khoai vào nước lạnh có pha ít muối để khoai ra bớt nhớt, rửa sạch rồi cho vào một nồi luộc chín mềm nhưng không nát.

    Bước 3: Hạt trân châu ngâm vào bát nước. Đun sôi nồi nước, sau đó cho hạt trân châu vào, tiếp tục đun để khi hạt trân châu nổi là chín. Vớt trân châu ra một bát nước đun sôi để nguội để trân châu không bị dính.

    Bước 4: Cho đỗ xanh vào nồi, đổ nước lạnh xâm xấp mặt đỗ xanh. Bắc nồi lên bếp đun sơ đến khi hạt đỗ mềm thì cho khoai sọ vào đun liu riu nhỏ lửa cho đến khi đỗ, khoai mềm.

    Bước 5: Cho đường cát vào nồi chè. Tùy theo sở thích mà bạn cho lượng đường phù hợp. Chỉ nên cho đường khi khoai và đỗ đã chín mềm nếu không khoai, đỗ dễ bị sượng.

    Bước 6: Đun thêm khoảng 3 phút, sau đó cho hạt trân châu vào và tiếp tục đun thêm 3 phút nữa. Cuối cùng, bạn chỉ việc múc chè ra bát và thưởng thức. Chè khoai sọ đỗ xanh dùng lạnh hay nóng đều rất ngon.

    Đậu xanh đã cà sạch vỏ: 250g.

    Nước cốt dừa đúng lon: 1 lon.

    Sữa tươi có đường: 300ml.

    – Cốm khô: Đãi nhiều lần cho sạch vỏ trấu và sạn, rồi rửa sạch lại với nước lạnh, để ráo.

    – Đậu xanh: Ngâm với nước ấm 70 độ C khoảng 1 tiếng để đậu mềm, đãi kỹ, vớt ra rổ để ráo.

    – Múc chè cốm đậu xanh sữa dừa ra bát, cho thêm nước cốt dừa được chế biến sẵn và dừa nạo nữa là đã có thể thưởng thức món chè vô cùng hấp dẫn này rồi.

    9. Chè đỗ xanh rong biển (phổ tai)

    – 200gr đậu xanh nguyên vỏ.

    – 1 nhúm nhỏ phổ tai.

    – ½ tsp muối.

    Bước 1: Đậu xanh đãi sạch, ngâm qua đêm với nước lạnh ngập mặt đậu, pha vào đó ½ tsp muối. Phổ tai rửa nhiều lần cho thật sạch, ngâm trong nước lạnh để phổ tai nở bung.

    Bước 2: Đổ đậu vào nồi, cho nước vào ngập mặt đậu, đun sôi đến khi đậu chín mềm rồi cho từ từ đường vào, đun lửa nhỏ để đường ngấm vào đậu.

    Bước 3: Cho tiếp phổ tai vào nồi, khuấy đều để phổ tai quyện với đậu, đợi nồi chè sôi trở lại thì tắt bếp ngay, không nên đun lâu vì như vậy sẽ làm phổ tai mất đi độ giòn.

    Bước 1: Ngâm riêng hạt sen và đậu xanh trong nước khoảng 6 – 8 tiếng trước khi nấu

    Bước 2: Luộc hạt sen chín mềm. Cùng lúc, đem hấp chín đậu xanh

    Bước 3: Khi đậu xanh chín, đem nghiền nhuyễn

    Bước 4: Nấu nước đường phèn với ít lá nếp. Khi nước sôi, cho hạt sen vào nấu cùng

    Bước 5: Khi hạt sen thấm ngọt, vớt lá nếp ra ngoài và trút phần đậu xanh đã nghiền vào nồi chè nếu thêm khoảng 10 phút. Với cách nấu chè hạt sen đậu xanh này, bạn sẽ giúp cho bát chè sánh đặc và rất bùi. Khi dùng, múc chè ra bát nhỏ và ăn ngay khi còn nóng.

    – Nước cốt dừa (tùy thích).

    Bước 1: Đậu xanh vo sạch, ngâm đậu xanh trong nước khoảng 2 giờ.

    Bước 2: Trong lúc ngâm đậu xanh bạn bóc vỏ và tách lấy cùi vải.

    Bước 3: Đậu sau khi ngâm nở thì cho vào nồi, thêm lượng nước vừa ăn vào đun cho đến khi đậu chín bở. Chú ý khi nồi đậu sôi thì hạ nhỏ lửa đun liu riu cho đậu không bị trào ra khỏi nồi. bạn cũng có thể đặt một đôi đũa lên trên nồi để không bị trào ra.

    Bước 4: Khi đậu chín bở thì bạn cho cùi vải đã bóc và đường vào đun, bạn đun khoảng 5 phút thì vải nổi lên trên là được. Bạn thêm nước cốt dừa vào hòa chung là xong. Để cho nồi chè nguội và thưởng thức thôi.

    12. Chè đỗ xanh khoai lang tím

    – Bột năng, đường, lá nếp, vừng rang.

    Bước 1: Đậu xanh ngâm nước 15 phút, vớt ra nấu với nước, cho lá dứa vào nấu chung cho đến khi đậu chín mềm, cho đường vào nấu cho sôi lại, nêm cho vừa ăn, cho thêm chút bột năng để tạo độ sánh cho chè.

    Bước 2: Khoai tím đem hấp chín, sau đó đem đánh nhuyễn, trộn đường nâu. Để nguội rồi đổ bột nếp vào trộn đều.

    Bước 3: Nặn thành những viên tròn nhỏ vừa ăn.

    Bước 4: Đun một nồi nước sôi rồi thả những viên khoai vào đun đến khi khoai chín nổi lên, vớt ra để vào bát nước đun sôi để nguội.

    Bước 5: Vừng rang vàng thơm để rắc lên chè. Cuối cùng bạn múc chè đậu xanh ra bát, cùng với những viên khoai tím mà bạn vừa thực hiện. Món chè đậu xanh khoai lang tím ngon bùi, thanh mát chắc chắn ai cũng sẽ thích.

    Đường kính, bột sắn dây, muối ăn

    – Đậu xanh vo sạch, ngâm chừng 3 tiếng cho đậu nở rồi để ráo nước.

    – Cho đậu vào nồi ninh nhừ với 1 nhúm muối nhỏ, khi đậu nhừ thì bạn dùng muôi đánh cho chè nhuyễn ra.

    – Nhãn bỏ vỏ, lóc hạt để ra bát.

    – Hoà sắn dây với ½ bát con nước.

    – Cho sắn dây, đường vào đậu, nêm lại độ ngọt tuỳ theo khẩu vị nhà bạn, khuấy đều. Cuối cùng cho nhãn vào, đợi chè sôi bùng lên rồi tắt bếp luôn. Lấy chè đậu xanh nhãn ra bát, dùng khi chè ấm hay lạnh tùy thích.

    Đường phèn (tùy khẩu vị để nêm liều lượng)

    2 muỗng canh nước cốt dừa

    Vừng rang, dừa nạo.

    Bước 1: Đậu xanh đãi sạch, để ráo.

    Bước 2: Đun đậu xanh với 1 lượng nước vừa đủ cho đến khi đậu xanh chín mềm thì thêm đường phèn, lá dứa đã rửa sạch vào đun cùng.

    15. Chè đậu xanh rầu riêng

    Đậu xanh đã xa sạch vỏ: 250g.

    Nước cốt dừa: 150ml.

    Sữa tươi không đường: 300ml.

    Nước dừa tươi: 200ml.

    Bột năng: 3 thìa.

    Đậu phộng rang sẵn: 100g.

    – Đậu phộng rang sẵn: xa kỹ vỏ, giõ nhỏ.

    – Sầu riêng: Tách lấy cơm, bỏ hạt.

    – Tiếp đó, bạn hòa tan 100ml nước dừa tươi còn lại với 3 thìa bột năng rồi cho vào nồi bắc lên bếp, đổ hỗn hợp sầu riêng – đậu xanh – nước dừa, đường đã xay nhuyễn vào, vặn lửa nhỏ, vừa đun vừa khuấy thật đều để bột năng không bị vón cục và giúp cho cách nấu chè sầu riêng đậu xanh sánh mịn hơn.

    16. Chè đậu xanh bánh lọt

    – Vài giọt tinh dầu lá dứa

    – Đậu xanh nấu chín, xay nhuyễn

    – Cho 100g bột củ năng vào tô cùng 2 muỗng canh bột năng, thêm vào khoảng 350ml nước ấm, vài giọt tinh dầu lá dứa cùng tí muối và 1 muỗng canh nước cốt dừa, khuấy đều cho tan bột. Lọc qua rây mắt mau để loại bỏ cặn.

    – Đổ hỗn hợp bột vào nồi, bắt lên bếp, khuấy đều với lửa nhỏ cho đến khi hỗn hợp sánh đặc lại.

    – Múc bột đã khuấy vào dụng cụ ép khoai tây, ép vào trong chậu nước đá. Bạn nhớ cho hẳn dụng cụ ép nhúng vào trong nước để sợi bánh lọt được ngắn. Hoặc nếu không có dụng cụ ép, bạn có thể cho vào rổ nhỏ có lỗ to và dùng muỗng đè xuống. Sau khi ép xong bánh lọt, bạn vớt ra rổ để cho ráo nước.

    – Cho nước cốt dừa vào nồi nấu đến khi nước dừa hơi sệt sệt thì thêm tí muối vào nước dừa để tạo vị đậm đà.

    17. Chè đậu xanh khoai lang

    – 1 củ khoai lang vàng giống Nhật cỡ vừa

    – Ngâm đậu xanh với nước trước 3-4 giờ. Nhặt bỏ hạt hỏng.

    – Khoai lang gọt vỏ và cắt miếng vừa ăn. Ngâm khoai lang vào bát nước có chanh để không bị thâm đen.

    – Cho đậu xanh cùng lá dứa vào nồi đổ nước gấp đôi lượng đậu. Nấu ở lửa trung bình cho đến khi nước sôi thì cho khoai lang vào nấu tiếp ở lửa nhỏ. Đến khi đậu xanh nở,khoai mềm thì vớt lá dứa ra, cho đường vào đảo nhẹ tay để tránh làm nát.

    – Nêm nếm tuỳ khẩu vị rồi múc chè ra bát, thưởng thức khi chè còn hơi ấm hay để nguội đều ngon. Nếu bạn thích ăn lỏng hơn có thể cho lượng nước nhiều hơn khi nấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nấu Các Loại Chè Dễ Làm Mùa Hè Siêu Ngon Ngay Tại Nhà
  • Công Thức Nấu Chè Ngon Từ Vải Thiều Đậu Xanh
  • Các Món Chè Ngon Từ Đậu Xanh Và Hướng Dẫn Cách Làm Siêu Đơn Giản
  • Học Cách Làm Bánh Bột Lọc Nhân Đậu Xanh Ngon Như Người Huế
  • Tổng Hợp Cách Nấu 24 Món Chè Ngon Ngọt, Thanh Mát Ai Nhìn Cũng Muốn Ăn
  • Cách Chế Biến Món Nhút Mít, Món Ăn Dân Dã Đặc Sản Xứ Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Muối Xơ Mít Chín Ngon Cơm Lạ Miệng Dễ Làm Tại Nhà
  • Cách Làm Tương Cà Chua Ngọt Ngon, Đẹp Màu, Để Được Lâu Tại Nhà
  • 3 Món Canh Xương Ngon Ngọt Bổ Dưỡng Cho Ngày Hè
  • Chinh Phục Cả Nhà Với Món Canh Sườn Nấu Me Chua
  • Cách Nấu Canh Cải Xoong Tốn Cơm Ngày Nắng Như Thế Nào?
  • CÁCH CHẾ BIẾN MÓN NHÚT MÍT

    “Ngái ngôi chi mà anh nỏ về

    Hay là vì anh chê quê em nghèo đói

    Hay anh chê em vụng về câu nói

    Đất Thanh Chương nhút mặn chua cà

    Chắc có lẽ rứa mà anh chê

    Chắc có lẽ rứa mà anh nỏ về….”

    Câu chuyện về nguồn gốc của nhút

    Truyện kể rằng, ngày xưa ở vùng đất Thanh Chương nghèo, gió Lào và cát trắng, đất cằn cỗi đầy sỏi đá nên việc làn nông nghiệp không đủ nuôi sống các gia đình nơi đây. Nhà nào cũng phải ăn cơm độn ngô, độn sắn mà vẫn đói, thiếu ăn. Để khắc phục khó khăn đó, người dân nơi đây luộc mít để ăn chấm với chẹo (một loại nước chấm độc đáo của người dân xứ Nghệ được làm từ tương và lạc) ăn thay cơm. Do mít chỉ có vào mùa hè trong năm nên người dân đã nghĩ cách muối mặn mít để ăn dần quanh năm gọi là nhút. Từ đó cho đến nay, nhút Thanh Chương được hình thành và đã trở thành món ăn quen thuộc, gắn bó với người dân nơi đây từ thưở còn đói nghèo mà không thứ gì khác có thể thay thế được.

    Nguyên liệu

    Sơ chế nguyên liệu

    Mít được chọn để làm nhút thường là mít bở, quả hơi dài và phẳng sẽ dễ làm hơn, mít không được chín mà phải hơi non hoặc còn ương xanh. Khi đó, hạt mít chưa hình thành vỏ lụa bên ngoài làm nhút sẽ ngon hơn.

    Mít sau khi được hái về, gọt sạch vỏ gai bên ngoài dưới vòi nước chảy để nhựa mít đỡ dính nhiều vào tay vì mít xanh nhựa rất nhiều.

    Sau khi gọt hết vỏ gai bên ngoài, cho mít vào một chiếc nong lớn, dùng dao băm đều tay rồi thái sợi từ ngoài vào trong quả mít và đảm bảo rằng cả xơ mít, múi mít và hạt mít đều được cắt nhỏ thành sợi dài. Tiếp theo, cho mít đã thái sợi vào ngâm với nước gạo cho sạch nhựa mít đến khi sợi mít trắng tinh.Tiếp đến các bạn dùng một chiếc nạo, nạo theo chiều dài của trái mít để được những sợi mít trông mỏng như sợi bún.

    – Tỏi bóc vỏ băm nhỏ.

    – Sả rử sạch đập dập thái nhỏ.

    – Ớt rửa sạch để nguyên quả

    Các bước thực hiện

    Bước 1: Sau khi sơ chế mít xong thì các bọn trộn mít cùng với muối, các bạn ước lượng sao cho không quá mặn hoặc không quá nhạt (tùy theo khẩu vị của từng người).

    Bước 2: Cho mít vào vại muối:

    Lần lượt chộn mít cùng tỏi, xả từng chút một và cho vào vại muối (lưu ý là trộn từng chút một không chộn cả bỏ vào vại 1 lần). Khi lượng mít trong vại cao 5cm thì xếp 3 -4 quả ớt vào, làm như vậy đến khi hết số mít.

    Bước 3: Đặt củ nén

    Sau khi mít đã cho vào vại, các bạn đổ nước dôi để nuội và xăm xắp sau đó dặt lên một chiếc vỉ và chèn lên cùng hòn đá lớn để mít chìm dưới mặt nước. Nếu gia đình các bạn có bình chuyên dụng để muối dưa, các bạn cùng xoc thể cho vào chiếc bình này vô cùng tiện dụng. Để như vậy từ 5 – 7 ngày là món NHÚT có thể dùng được

    Qua các bước trên cho thấy, cách chế biến món nhút thật sự đơn giản, dễ làm với bất kỳ người nào.

    Ngoài ra, nhút còn được làm từ xơ mít chín sau khi ăn hết phần múi. Xơ nhặt rửa sạch đem muối tương tự như mít xanh, xơ mít cũng được trộn muối và vò cho ngấm đều vào mít. Làm nhút từ xơ mít thì khoảng 2-3 ngày là có thể ăn được.

    Để nơi khô ráo, tránh ánh nắng mặt trời,có thể bỏ ngăn mát tủ lạnh dùng dần.

    MÓN ĂN HẤP DẪN TỪ NHÚT MÍT

    Không đơn giản chỉ là một món đồ chua cho bữa ăn thêm ngon miệng mà nhút còn có thể chế biến thành nhiều hương vị hấp dẫn.

    – MÓN NỘM:

    +Nguyên liệu: dùng găng tay vắt NHÚT ra bát( vừa ăn), thịt lỗ tai heo(lợn), tỏi,ớt, lá kinh giới, lá rau quế,lá chanh, mùi tàu, lạc rang, đường, mì chính(k nhất thiết)

    +Cách làm :

    Thịt lỗ tai heo(lợn): rửa sạch, rồi cho lên bếp luộc chín, sau đó thái lát mỏng.

    Tỏi ớt thái nhuyễn, rau thơm rửa sạch thái chỉ, lạc rang giã dập. Trộn tất cả các thứ trên rồi để chừng khoảng 5 phút cho ngấm gia vị thì ăn được.

    -MÓN XÀO:

    +Nguyên liệu:

    Nhút muối: 01 bát ăn cơm; Thịt nạc dăm: 100g (hoặc thịt gà hoặc tôm(tép) khô). Gia vị: Lá chanh, rau ngổ, mùi tàu(ngò gai), tỏi, ớt, dầu ăn,hành tăm(hoặc hành khô), đường, súp, mì chính.

    Cách làm:

    Thịt thái mỏng, phi thơm hành rồi cho thịt xào qua,bỏ tí súp,mì chính( bỏ vừa phải vì trong nhút muối đã có gia vị) rồi thả nhút cho lửa nhỏ om khoảng 10 phút cho nhút ngấm gia vị, tới chừng cạn nước thì thái rau ngổ, mùi tàu(ngò gai), lá chanh cho vào

    – MÓN CANH CHUA:

    Nguyên liệu:

    Nhút muối: 01 bát ăn cơm ; Cá Quả hoặc Đầu Cá Trắm(Trôi,Mè) ; Gia vị: Hành khô, ớt, nghệ tươi, rau ngổ, mùi tàu(ngò gai),cà chua.

    Cách làm:

    +Cá Quả hoặc Đầu Cá Trắm(Trôi,Mè)làm sạch, cắt khúc đối với cá quả, bổ đôi đối với Đầu Cá Trắm(Trôi,Mè) rồi chiên sơ.

    +Cà chua rửa sạch, thái lát.

    Hành khô, ớt, nghệ tươi giã nhuyễn rồi cho vào chảo phi thơm,bỏ Cà Chua, Nhút vào đảo đều trong vài phút rồi trút vào chừng 01 bát ôtô nước,Thả Cá Quả hoặc Đầu Cá Trắm(Trôi,Mè) đun sôi vừa lửa chừng mươi phút, nêm nếm gia vị vừa ăn.Rau ngổ, mùi tàu(ngò gai), thái chỉ rắc vào khi đã tắt bếp.

    – Món Canh Lạc:

    Nguyên liệu: nhút muối: 1 bát ăn cơm, lạc sống: 50g( giã dập), lá mùi tàu(ngò gai),ớt, hành, súp, mì chính.1 quả cà chua(rửa sạch, thái lát)

    Cách làm: phi thơm hành,ớt lên, bỏ Cà chua, nhút vào đảo đều trong 3 phút, rồi cho 1 bát ôtô nước vào, cho lạc vào đun sôi vừa lửa chừng 7-10 phút, nếm gia vị vừa ăn. Mùi tàu(ngò gai) thái chỉ rắc vào khi đã tắt bếp.

    Hôm nào lười đi chợ, chỉ cần pha chén chẻo rồi chấm cùng nhút, thế là đã có món ăn vô cùng “đưa cơm” rồi đấy. Chẻo được xem là “một nửa” ăn ý của nhút, được làm từ đậu phộng rang giã nhuyễn, thêm đường, mắm và ớt. Bát cơm dẻo thơm, nóng hổi lẫn trong vị nhút giòn giòn, mằn mặn rồi thêm nước chấm béo bùi làm người ta thấy “ấm lòng chắc dạ” hẳn.

    Nhút nghe có vẻ “quê mùa” nhưng đối với người Nghệ An, đây lại là hương vị gắn bó từ lâu đời và góp vị vào cho bữa ăn thêm đậm đà, phong phú. Để rồi mỗi khi xa nhà ai cũng thấy nhung nhớ khôn nguôi cái vị mằn mặn, bùi bùi của món ăn này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Muối Xơ Mít Chín Ngon Và 6 Món Ngon Với Xơ Mít Như Nộm Nhút Mít, Xơ Mít Kho …
  • Nhớ Nồi Canh Xơ Mít Mẹ Nấu Năm Xưa
  • Nhất Định Phải Làm: Món Ngon Từ… Xơ Mít, Đưa Cơm Tuyệt Hảo
  • Tuyệt Chiêu Nấu Canh Chua Cá Hồi Thanh Mát Và Lạ Miệng
  • Cách Nấu Canh Chua Cá Basa Đậm Đà Chua Dịu Thơm Ngon Trọn Vị
  • Cách Chế Biến Món Nướng Bằng Lò Vi Sóng Bluestone Đơn Giản Mà Ngon Tuyệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nấu Ăn Bằng Lò Vi Sóng Siêu Dễ
  • Cách Nấu Các Món Ăn Dặm Ngon, Bổ Dưỡng Cho Bé Yêu Của Bạn
  • 30 Món Ăn Ngon Tự Nấu Tại Nhà, Thay Đổi Mỗi Ngày Sẽ Không Bị Ngán!
  • Cách Làm Các Món Ăn Ngon Mùa Thu
  • Bữa Ăn Ngon Với Cách Làm Cơm Cuộn Trứng Đơn Giản
  • Gợi ý cho 2 món nướng cuối tuần là Gà nướng và Khoai nướng bằng lò vi sóng Bluestone vừa đơn giản, dễ làm mà lại ngon tuyệt, thơm lừng.

    CÁCH LÀM MÓN GÀ NƯỚNG BẰNG LÒ VÌ SÓNG ĐƠN GIẢN MÀ THƠM NGON NHƯ MẸ LÀM

    Nguyên liệu và dụng cụ chế biến gà nướng bằng lò vi sóng.

    NGUYÊN LIỆU

    • Gà: 1 con (từ 1,5kg đến 2kg)
    • Mật ong: 3 đến 4 muỗng cà phê
    • Dầu hào: 2 đến 3 muỗng cà phê
    • Gia vị: nước mắm, dầu ăn, hạt nêm, ngũ vị hương, tiêu
    • Hành, tỏi, sả, ớt

    DỤNG CỤ

      Lò vi sóng Bluestone có chế độ grill (nướng).

    Bạn có thể chế biến nguyên liệu bao nhiêu cũng được, bạn có thể chuẩn bị phần thịt gà nhiều hơn, hoặc bạn chỉ lựa chọn phần thịt gà nào mà bạn thấy thích, ví dụ như thịt lườn, đùi gà, cánh gà,…

    Bước 1: Làm thịt gà

    Chọn thịt gà thì bạn nên chọn loại gà tơ không già quá cũng không non quá, để thịt gà khi nướng sẽ ngon nhất.

    Bạn tiến hành làm sạch, đầu tiên, rạch bụng để lấy hết phần nội tạng bên trong ra ngoài, bạn có thể giữ lại để làm món xào. Còn con gà, bạn rửa sạch bên trong bụng, dùng muối xát toàn thân con gà, vặt bỏ đi lông còn sót lại. Rửa sạch gà một lần nữa rồi để rổ cho ráo.

    Bạn có thể chặt thành 4 phần, hoặc để cả con nếu lò vi sóng của nhà bạn đủ chứa. Tiếp theo bạn dùng dao khía các đường nhỏ trên thân gà để gia vị dễ ngấm vào thân gà hơn, ngon hơn khi nướng.

    Bước 2: Sơ chế các nguyên liệu khác

    – Ớt rửa sạch, thái nhỏ

    – Tỏi bóc vỏ, rửa sạch rồi giã nhỏ

    – Hành bóc vỏ rồi thái nhỏ

    Sau đó để cho nguyên liệu được nhỏ, bạn dùng máy xay, xay cho nhuyễn hỗn hợp trên rồi để ra bát.

    Tiếp theo lấy bát nguyên liệu đã chuẩn bị ở bước trên, bạn cho 2 thìa cafe nước mắm, 2 thìa mật ong, 1 thìa cafe tiêu, 1 thìa bột ngọt và 1 thìa bột canh, 1 thìa cafe đường khuấy đều hỗn hợp lên với nhau để cho tan.

    Bước 3: Nướng gà

    Chúng ta tiến hành nướng bằng lò vi sóng nên bạn cần làm nóng lò trước 15 phút với nhiệt độ từ 180 độ C đến 200 độ C. Đặt gà vào khay rồi cho vào lò, nên để thêm một khay ở dưới để đựng phần nước từ gà chảy ra. Nướng gà trong khoảng thời gian 30-40 phút tùy từng loại gà mà chúng ta căn thời gian.

    Khi gà chín sẽ có màu vàng trông rất hấp dẫn,

    mang ra khỏi lò nướng và chặt thành miếng vừa ăn và thưởng thức ngay thôi.

    Khoai lang nướng là một trong những món ăn giàu năng lượng, cũng là món ăn vặt khoái khẩu của nhiều người. Thế nhưng không phải lúc nào bạn cũng có thời gian để nướng khoai trên lò than, vì vậy bạn có thể tham khảo cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng thơm ngon đúng chuẩn mà tiết kiệm thời gian vô cùng.

    Khoai lang là loại thực phẩm bình dân có chứa hàm lượng dưỡng chất cao, việc nướng bằng lò vi sóng giúp giữ lại được nhiều chất dinh dưỡng hơn so với cách nướng hay luộc thông thường. Hơn hết khoai lang được nướng trong lò vi sóng giúp khoai lang còn ngọt hơn do không tiếp xúc trực tiếp với nước mà tự chín bằng nước bên trong củ khoai.

    Nguyên liệu và dụng cụ nướng khoai lang bằng lò vi sóng

    • Vài củ khoai lang
    • Lò vi sóng Bluestone có chế độ nướng (Grill)

    Hướng dẫn cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng

    CÁCH 1

    Bước 1: Bạn hãy chọn những củ khoai lang có có kích thước vừa phải để lúc nướng tiết kiệm được thời gian. Sau đó, bạn rửa khoai lang cho sạch sẽ rồi để khô ráo, có thể cắt hai đầu khoai lang đi.

    Dùng tăm nhọn hoặc nĩa đâm xung quanh củ khoai lang, việc này giúp khoai khi nướng không bị nứt, khi nhiệt nóng lên khoai lang tập hợp hơi nước có trong nó, giúp nó chín đều và hơn hết là tránh khoai lang bị nổ trong lò.

    Bước 2: Tiếp theo xếp đều khoai lang lên vỉ nướng, cho vỉ nướng vào lò vi sóng, chọn chế độ Grill (nướng), để thời gian khoảng 10 phút. Tùy thuộc vào kích thước của khoai, loại khoai lang và công suất của lò vi sóng mà bạn điều chỉnh thời gian thích hợp.

    Bước 3: Sau 10 phút, lật khoai lại và nướng tiếp mặt dưới khoảng 10 phút.

    – Chọn công suất cao và để thời gian thêm 5 phútrồi lấy ra.

    Với khoai lang tím và khoai lang Nhật thì để lần 1 ở 8 phút, ở công suất trung bình. Lần 2 thì quay thêm 3-4 phút nữa.

    CÁCH 2

    Bước 1: Đầu tiên, bạn rửa sạch củ khoai lang cho hết đất cát bám quanh củ, rồi để ráo. Tiếp tục làm ẩm khoai lang, rồi dùng giấy báo/giấy ăn gói khoai lại, gói khoảng 2-3 lớp, nếu 1 lớp thì không đủ độ nhiệt giữ lại để làm chín khoai. Và hơn hết mục đích của việc này giúp giữ ẩm cho khoai lang, tạo cho nó có lớp vỏ mềm ẩm hơn.

    Bước 2: Sau đó bạn cho khoai lang đã được gói giấy báo kĩ lưỡng vào lò vi sóng, chỉnh chế độ nướng khoảng 5-8 phút. Tùy theo số lượng và khối lượng khoai lang mà bạn có thể tăng thời gian nướng lên. Quay đến khi chín, nếu chưa chín thì tiếp tục quay trong lò.

    Với 2 cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng rất đơn giản và nhanh gọn như vậy, bạn sẽ luôn có khoai lang ngon lành để ăn mà không mất nhiều thời gian, lại còn giữ được hết các chất dinh dưỡng có trong khoai lang.

    Nên nướng đồ bằng lò vi sóng hay nướng bằng than?

    Cách nướng món ăn bằng than hay lò vi sóng thường dùng các nguyên liệu gia vị ướp như nhau. Tuy nhiên, phương pháp nướng bằng than tồn đọng nhiều nguy cơ đối với sức khỏe vì có nhiều khí độc sinh ra từ than, ô nhiễm môi trường… Thế nên, ngày nay, cách ướp gà nướng lò vi sóng được nhiều chị em chọn lựa với nhiều ưu điểm như tiết kiệm thời gian, công sức, hương vị vẫn thơm ngon không đổi. Lò vi sóng hiện đại có chức năng nướng thức ăn 2 lửa, nhờ đó, giúp thức ăn chín đều các mặt và lên màu hấp dẫn. Cách nướng bằng lò vi sóng giúp bạn chủ động kiểm soát được chế độ nhiệt, thời gian nướng để tránh làm thức ăn cháy, khét.. và đặc biệt nướng bằng cách này không gây nguy hại cho sức khỏe bởi các khí độc từ than.

    So với cách nướng truyền thống, nướng lò vi sóng đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều, hoàn toàn có thể thực hiện cho những bữa ăn bận rộn và không có nhiều thời gian chuẩn bị, mặc dù vậy vẫn đảm bảo cho gia đình và bạn bè mình bữa ăn ngon lành và chất lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Mứt Mận Cực Kỳ Ngon Và Đơn Giản
  • Lớp Học Nấu Các Món Vặt Chuyên Nghiệp
  • 19 Cách Thông Minh Để Ăn Uống Lành Mạnh Với Ngân Sách Hạn Chế
  • Mách Bạn Các Mẹo Nấu Ăn Ngon Mà Tiết Kiệm
  • Món Ngon Cho Bé 1 Tuổi: Phần 1
  • Đông Bắc & Tây Bắc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mách Mẹ Cách Làm 15 Món Xôi Vừa Thơm Vừa Dẻo, Chồng Con Ăn Tấm Tắc Khen
  • Chia Sẻ Cách Nấu Xôi Vị Đơn Giản Cho Bữa Sáng Ngon Tuyệt.
  • Hướng Dẫn Cách Làm Xôi Vò Bằng Nồi Cơm Điện
  • Cách Nấu Xôi Vò Ngon Bằng Lò Vi Sóng Đơn Giản Nhất
  • Cách Nấu Xôi Vò Nhanh Chóng Với Lò Vi Sóng
  • Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn(Hà Giang), thác Bản Giốc và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), v.v…; những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng. Năm 2010, nhiều công ty du lịch VN đã tổ chức tour du lịch vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam.

    Tôi đã đi Hạ Long nhiều lần rồi nên kỳ này, tôi quyết định chỉ đi Sapa và vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam. Năm nay (2011), giá tour trong nước tăng cao do nhiều nguyên nhân(điện + nước + xăng dầu tăng, vật giá tăng nên cái gì cũng tăng theo); thậm chí so với giá tour nước ngoài(như đi Thái Lan, Campuchia, Sing – Mã, etc…) thì bà con thà rủ nhau đi nước ngoài vẫn thích hơn; nhất là thái độ phục vụ. Từ Saigon, tôi bay ra Hà Nội và công ty du lịch đón tại sân bay rồi đưa đi Sơn La, qua Mộc Châu (đường quốc lộ 6: Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Lai Châu) và ghé ăn trưa tại

    Thị trấn Phù Yên. Nếu theo quốc lộ 37: Mai Sơn – Bắc Yên – Điện Biên – Phù Yên – Yên Bái, chúng ta sẽ đi Điện Biên hay Yên Bái.

    Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã tổ chức nhiều tour ngắn ngày và đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia ” Quế Lâm Ngự Chế” – bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng, dưới lòng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ vòm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

    Khi áng chiều đã trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những dòng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh bình, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn mình theo triền núi. Cách trung tâm thị xã gần 5 km, điểm tham quan và thư giãn tại khu Suối nước nóng Bản Mòng hiện ra còn nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

    Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đã lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xã Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

    Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những dòng suối nước trong veo và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần hòa quyện cùng điệu xòe bên ánh lửa bập bùng sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành trình về với Sơn La. Mời các bạn hãy đến thăm Sơn La.

    Chiều, chúng tôi t ới TP Sơn La. Sau khi nhận phòng và dùng bữa tối , chúng tôi TP Sơn La về đêm Sơn La cách bia văn của hoàng đế đi thăm qua và đi tắm suối khoáng nóng rồi mới về nghỉ đêm tại khách sạn. Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố háng 1 năm sau. Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ “Quế Lâm Ngự Chế” gồm 140 chữ Hán.Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12

    Những con đường rộng bình yên, những thiếu nữ dân tộc người Thái và Mường xúng xính trong váy áo với nhiều hoa văn làm say lòng khách lạ, làm tan đi cảm giác mỏi mệt sau một hành trình dài hơn 300km từ một bến xe của Hà Nội. Được xây dựng vào năm 1908, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ cấp tỉnh với diện tích 500m 2, sau được thực dân Pháp mở rộng diện tích lên gấp ba lần, nhà ngục Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là nhà tù thép, là nơi giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam.Với những căn phòng tối bằng gạch và đá khá kiên cố, mái lợp tôn, mùa hè nơi đây tựa một lò nung và mùa đông thực sự là một chiếc tủ lạnh trong gió mùa biên ải khắc nghiệt.Giữa những bức tường nhà ngục đổ nát như là minh chứng cho những tội ác dã man của kẻ thù, tình cờ tôi đã gặp bác Trần Nguyên, một cán bộ thông tin của chiến trường miền Đông Nam Bộ, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lặn lội từ Quân khu 4 ra thăm. Ông ra thăm với mục đích duy nhất là muốn được nghe lại những câu chuyện cảm động về hoạt động của chi bộ đảng nhà tù Sơn La, đi thăm và cảm nhận về sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử.

    Cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Thái dẫn chúng tôi đi thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian… Đến mỗi một địa danh, chúng tôi lại được nghe những câu chuyện cảm động về sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù, tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, tổ chức vượt ngục… của những cán bộ ưu tú của Đảng như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu….

    Cây đa bản Hẹo là địa điểm liên lạc bí mật giữa Trung ương Đảng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ địa điểm liên lạc này, Chi bộ nhà tù Sơn La nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương Đảng để tổ chức lãnh đạo đấu tranh giải phóng nhà tù, đưa các cán bộ trung kiên của Đảng trở về với phong trào cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều Đảng viên Cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7/3/1944. Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đồng chí Tô Hiệu, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cho khắc tấm bia đá có chữ Tô Hiệu, bí mật đặt dưới mộ đồng chí. Cây đào mang tên Tô Hiệu được trồng bên tường trại giam hiện nay vẫn còn, bốn mùa luôn xanh tươi như một minh chứng về sức sống lâu bền của cách mạng Việt Nam, thành một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt. Nhà tù Sơn La gồm có 5 nhà giam chính, 4 tháp canh cùng một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu trong lòng đất gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể. Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, và đến năm 1965, Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La, phá hủy một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại. Lần thứ nhất, san lấp hố bom, xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần thứ hai, vào năm 1994, phục chế lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Hiện nay, nhà tù Sơn La trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Hằng năm Bảo tàng Sơn La đã đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách là các em học sinh, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sinh viên, khách ngoại tỉnh và quốc tế tới thăm.

    Tới thăm bản Cọ – quê hương của anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá

    Bản Mòng là một địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng hấp dẫn thuộc xã Hua La, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

    Điều đầu tiên mà du khách cảm nhận được là cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình nơi đây. Những dãy núi nhấp nhô như thân rồng uốn lượn soi mình xuống dòng Nậm La. Trên các sườn đồi cà phê, mơ, mận, thông, tre mọc um tùm. Xa xa là rừng cây với các loại gỗ quý: đinh hương, sến, nghiến, thông, trẩu….và hàng chục loài hoa phong lan với nhiều màu sắc. Vào độ xuân về, hoa mơ, hoa mận và hoa ban đua nở trằng rừng với từng bày ong bay tìm mật tạo nên không khí vui nhộn. Khi đông về, hoa vông gai nở đỏ rực bên sườn đồi như tô điểm cho những ngôi nhà sản lợp ngói đỏ. Cái rét se lạnh cũng là thời điểm lý tưởng để thả mình trong dòng suối nước nóng.

    Đến với vùng đất này du khách còn có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc có chữ viết từ thế kỷ XI. Hiện tại, Bản Mòng có 106 hộ dân thuần Thái sinh sống. Họ sống trong nhà sàn lợp ngói ven các sườn đồi. Bên trên nóc nhà được trang trí bởi các loại khau cút, và cửa sổ cũng có đủ các loại hình thù: hình ngà voi, hình mặt trăng… Người dân nơi đây làm các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, dệt thổ cẩm, đan lát, làm gốm.

    Với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, những cư dân nơi đây đã biết tạo nên những món ăn dân dã nổi tiếng như món xôi được chế biến từ gạo nếp dẻo thơm ủ trong những cái ếp khảu nhỏ xinh xắn, món cơm lam nấu từ gạo được ngâm sau mấy giờ cho vào một loại ống tre non đốt trên than củi có mùi thơm đặc biệt, cá nướng, thịt khô, các món rau, măng đặc sản của vùng núi: măng lay, măng bói, măng đắng, nấm hương, nấm mối, rau sắng, sổm lôm…….

    Trong những đêm trăng bên ánh lửa bập bùng trong nhà sàn, du khách sẽ được cùng với chủ nhà thưởng thức những hương vị đặc sắc cùng chum rượu cần. Lòng hiếu khách của người dân và phong cảnh hữu tình nơi đây sẽ giúp quý khách quên hết những mệt nhọc của một chuyến đi xa và những bận rộn đời thường. Những âm hưởng hòa quyện của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chim rừng thánh thót cùng điệu múa xoè, múa cánh bướm, múa piêu… thúc giục như mời chào quý khách cùng hoà nhập với âm điệu của lời hát Inh lả ơi…” chắc chắn sẽ để lại cho du khách cảm giác bâng khuâng, lưu luyến và mong có ngày được trở lại với Bản Mòng.

    Hang Dơi thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với diện tích là 6.915 m2. Nơi đây dưới sự tác động của thiên nhiên đã tạo ra những hang động lớn với những cảnh đẹp mê hồn, cùng địa hình có độ dốc lớn những dòng suối chảy đã tạo ra những dòng thác khiến không ít du khách phải trầm trồ thán phục.

    Từ đường quốc lộ, muốn tới hang thì bạn phải leo 240 bậc mới tới được cửa hang. Tuy nhiên, đường được tạo dáng uốn khúc nên sẽ làm giảm bớt cảm giác mỏi mệt của du khách. Khi lên đến cửa hang, điều đầu tiên mà du khách cảm nhân được chính là khí hậu nơi đây vô cùng mát vẻ khiến bao mỏi mệt bỗng chốc tan biến.

    Những dãy núi uốn lượn bao quanh thung lũng tạo nên một cảnh tượng có một không hai: Vào buổi sáng thì bầu trời chỉ toàn một màu trắng, đến buổi trưa thì màu xanh biếc, buổi trưa thì rực hồng và màu tím biếc khi hoàng hôn.

    Từ cửa hang bước vào, du khách sẽ cảm thấy sững sờ khi thấy một cảnh sắc diệu kỳ hiện ra trước mắt trong ánh sáng mờ ảo từ cúa hắt vào như thể tạo hóa đã cảm tỉnh riêng với nơi đây mà nhô ra những vẻ đẹp kỳ thú. Trên trần động cao rủ xuống những dải nhũ thạch lấp lánh đủ 7 sắc cầu vồng.

    Phần giữa hang vòm động được nâng cao lên, có bức mành đá chắn ngang và được gọi là buồng “Công chúa”. Bên phía trái là khối nhũ đá hình người con gái đang ngồi quay sợi. Không những vậy, nơi đây còn có rất nhiều nhũ đá đủ mọi hình dáng do thiên nhiên khéo léo tạo thành.

    Trong lòng hang cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ, nhìn vào những đường nét trạm trổ trên nhũ đá cho ta cái cảm giác như có bàn tay của con người can thiệp vào bởi nó quá tinh xảo và sống động. Tuy nhiên, những cảnh đẹp nơi đây đều do thiên nhiên ban tặng.

    Trên vòm hang có nhiều hốc đá, đây chính là tổ của những đàn dơi đông đúc, đen kịt và do đó nó mới có tên là Hang Dơi. Từ trên vòm hang, những giọt nước nhỏ xuống nhủ đá tạo nên một thứ âm thanh vô cùng thánh thót và êm dịu, thứ âm thanh đó đã khiến không biết bao du khách mãi nhớ đến Hang Dơi.

    tiếp tục dừng chân nghỉ và ngắm cảnh t Sau đó, chúng tôi khởi hành đi Điện Biên, ngắm cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc với các bản dân tộc Thái, Mường. Trên đường đi chúng tôi rên đỉnh đèo Pha Đin (một trong những đèo dài nhất Việt Nam), thăm khu du lịch Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. D ùng bữa trưa tại khu du lịch Pa khoang.

    Sân bay Điện Biên ngày nay

    Phóng viên ảnh Hoàng Chương, Minh Nguyệt, Chị Oanh cùng Đào Xuân Mai và cây bút hài Nguyễn Hữu Nhiệm từ trái qua trước bảo tàng Điện Biên

    Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

    Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

    Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng đờ castri ngày 07/5

    Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

    Hai cô gái xinh đẹp là cộng tác viên bản tin từ trong hầm chỉ huy ra Minh Nguyệt, Hoàng Anh Phương

    Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

    Ngày xưa đồng vẫn màu đồng

    Ngày nay đồng chuyển màu hồng sang …đen.

    (Đó là cách nói ví von về các vị chức sắc biết cách “ăn đồng”).

    Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

    Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

    (chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

    Đào Xuân Mai và anh Trần Hồi Trước hầm chỉ huy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Phó tổng giám đốc, Tổng biên tập bản tin

    Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

    Gái này chẳng phải Thái đâu Trong bản làng văn hóa Điện Biên

    Trước hồ em đứng …lên màu liêu trai

    Giới thiệu cách thức nấu xôi nếp cẩm Hoàng Anh Phương và cụ bà hơn trăm tuổi

    Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và 6. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên. Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.

    Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, Lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.

    Khí hậu tỉnh Điện Biên là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC. Nhờ khí hậu núi cao, thiên nhiên hoang sơ nên Điện Biên đang được đầu tư để trở thành điểm du lịch nhưng nói thật là thái độ phục vụ & ăn uống quá tệ, e rằng khó có du khách nào muốn trở lại lần nữa.

    Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.

    Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.

    Mấy năm nay con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng khiến khoảng cách giữa Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần và đây là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Thành thật mà nói thì ngồi thuyền trên sông vẫn thích hơn ngồi xe suốt ngày; ít ra cũng mát mẻ hơn và thoải mái ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ ở 2 bên bờ sông.

    Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1. Các điểm du lịch

    Đồi A1

    Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

    Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

    Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi.

    Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

    Nằm tại khu phố 1, P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

    Bảo tàng Điện Biên Phủ được xây dựng vào năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

    -Vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ.

    -Tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ.

    -Đảng chuẩn bị đường lối chỉ đạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

    -Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ.

    -Điện Biên Phủ ngày nay.

    -Hầm chỉ huy tướng Đờ Cát : Nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

    Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

    Nằm trong một khu rừng nguyên sinh tại địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25km về phía đông.

    Để đến đây du khách phải đi bằng ô tô, vượt qua dốc Tà Lơi hiểm trở và nhiều đoạn đường quanh co, khúc khuỷu. Gần với Sở chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi độ cao trên 1.000m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Đến sở chỉ huy, du khách sẽ được thăm các điểm sau :

    -Chòi canh gác số 1

    -Hầm thông tin liên lạc

    -Đài quan sát

    -Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    -Lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái

    -Đường hầm xuyên núi dài 96m nối liền lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Hầm của ban cố vấn Trung Quốc

    -Nhà hội trường

    -Hầm ban chính trị

    Đèo Pha Đin nằm trên đường từ Hà Nội lên Điện Biên, ở ranh giới giữa tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo Pha Đin

    Đèo dài 32km, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh. Pha Ðin tiếng địa phương nghĩa là Trời Ðất. Theo truyền thuyết địa phương, đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất.

    Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

    Hồ Pá Khoang

    Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km. Trong khu vực lòng hồ có các bản dân tộc Thái, Khơ Mú là những dân tộc còn giữ được những phong tục tập quán, nét đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc …

    Hang Thẩm Báng

    Thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Hang Thẩm Báng đã được xếp hạng di tích và là một điểm tham quan của du khách. Đây là hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn nguyên vẹn. Lòng hang rộng và sâu, cao gần 100m, có nhiều ngách.

    Giữa hang có phiến đá to bằng phẳng như mặt bàn. Nhìn lên các vách, trần đá, nhiều măng đá, nhũ đá tạo thành những hình thù những con rồng, con phượng, sư tử, voi quì hoặc những đoá phong lan tuyệt đẹp.

    Cầu Mường Thanh

    Chiều: chúng tôi t ới Điện Biên, nhận phòng khách sạn xong là rủ nhau đi thăm và mua săm đồ lưu niệm tại chợ trung tâm Điện Biên Phủ. Sau đó, c húng tôi khởi hành đi tham quan bảo tàng Điện Biên, Viếng Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1, thăm Đồi A1, thăm Hầm sở chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries, Cầu Mường Thanh, Sông Nậm Rốm,v.v…

    đền Hoàng Công Chất

    Hầm bộ chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries

    Sáng ngày thứ 3, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi khởi hành đi tham quan cửa khẩu Tây Trang – cửa khẩu quốc tế giữa Việt Nam và Lào. Trở lại TP Điện Biên, dùng bữa trưa tại nhà hàng.

    khởi hành đi Lai Châu Chiều: Chúng tôi theo quốc lộ 4D dọc theo sông Nậm Na. Chúng tôi thăm quan cửa khẩu Ma Lu Thàng, tiếp tục khởi hành về TX Lai Châu, dùng bữa tối tại nhà hàng. Chúng tôi n TX Lai Châu ghỉ đêm tại khách sạn.( mới).

    Sáng ngày thứ 4, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi trả phòng, khởi hành đi Tuyên Quang, qua Than Uyên, thăm Mù Cang Chải , ăn trưa tại thị trấn Tú Lệ.

    Chiều: Tiếp tục hành trình qua t hị xã Nghĩa Lộ thăm suối Giàng, cây Chè 500 năm tuổi, tiếp tục hành trình qua thành phố Yên Bái về Tuyên Quang, chúng tôi nhận phòng khách sạn.Qua 400km, chúng tôi mệt lã người nên d ùng bữa tối tại nhà hàng xong là nhào lên tắm và ngủ 1 chút. Thức dậy, chúng tôi

    dạo chơi tham quan thành Phố Tuyên Quang. Nghỉ đêm tại khách sạn.

    Một nhà thờ ở t hị xã Nghĩa Lộ

    Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

    Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

    Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 07/5

    Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

    Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

    Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

    Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

    (chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

    Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

    Đồng Văn

    Sáng ngày thứ 5, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành chúng tôi vào thăm quan Bảo tàng Tân Trào và nghe giới thiệu về khu đi khu di tích lịch sử Tân Trào (ATK) – thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi mà Đảng Cộng Sản Đông Dương tiến hành hội nghị toàn quốc (13/08/1945) đến Tân Trào, di tích lịch sử Tân Trào (ATK) thăm quan Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cây Đa Tân Trào, lán Là Nừa, ăn trưa tại thị trấn Hàm Yên.

    khởi hành theo đường Chiều: Tiếp tục hành trình đi Mèo Vạc, chúng tôi 4C đi Mèo Vạc – “Cổng Trời”, với độ cao khoảng 1.000m so với mặt biển, địa hình chập chùng núi rất khó khăn trong việc đi lại nhưng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho huyện vùng cao biên giới này một sức hút kỳ lạ đối với du khách. Đến Mèo Vạc, chúng tôi thăm chợ Mèo Vạc.

    “Cổng Trời”Mã Pi Lèng

    nhà vua Mèo

    Mèo Vạc

    Sau đó, chúng tôi t Lãng mạn hơn cả là chặng đường Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang cặp theo dòng sông Lô, dòng sông đã đi vào nhạc phẩm nổi tiếng của Văn Cao, và những dãy núi đá vôi trùng điệp. iếp tục khởi hành đi Đồng Văn. Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực. Đầu hè, những triền ngô(bắp) xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người H’Mông đang hối hả cày cấy… Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang. Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang! Thắng cố và rượu ngô là 2 món phổ biến nhất ở vùng này.

    Ấn tượng nhất là cung đường lên cao nguyên Đồng Văn, một bên vách núi dựng đứng còn bên kia là vực sâu và con lộ phía trước tưởng chừng hút thẳng lên trời cao. Một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Đông – Tây Bắc mà nhiều du khách mong đợi được đặt chân đến chính là điểm cực bắc Việt Nam trên đỉnh Lũng Cú. Nơi đây từng được ví là “nóc nhà Việt Nam”, nơi mà người dân đất Việt nào cũng đều mơ ước một lần thưởng lãm.

    Sau quãng đường dài với những thử thách ấy, chúng tôi được đền bù xứng đáng vì phong cảnh hoang sơ, hùng vỹ trải dọc các danh thắng cổng trời Quản Bạ, núi Đôi, dinh thự vua Mèo, đèo Mã Pí Lèng, những làng mạc của người dân tộc H’Mông trắng, Lô Lô, Dao đỏ… cứ vụt qua ô cửa sổ xe trên từng cây số xe chạy qua.

    Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng “lõi của cao nguyên đá” là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái “dưa mèo” mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng. Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.

    Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua “cửa ải” Yên Minh. Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá “độc”. Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan. Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi trên trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!

    Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước. Vào các buổi sáng chủ nhật, dưới những mái ngói thâm nâu ấy là cả một thế giới kỳ lạ của ẩm thực! Rượu ngô người Mông 8.000 đồng/ lít, uống say tràn cung mây. Một dãy nhà ngang của chợ được dành riêng cho hàng ăn uống với rất nhiều quán phở thịt lợn. Trước dãy nhà này, xôi bảy màu của người Tày xếp thành dãy. Xế vào phía uỷ ban huyện Đồng Văn là những phản thịt lợn và kế bên là các lò thắng cố thơm phức vị thảo quả lẫn với mùi khói gỗ nghiến hệt mùi gỗ pơ mu.

    Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món “gà mèo”, một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá “ứng xử” với gà mèo. Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!

    Tới đây chúng tôi không chỉ được thoả sức ngắm nhìn trời đất mà còn được tham quan một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn – đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên Núi Đá.

    Đồng Văn ( Hà Giang)

    Về địa thế, Hà Giang có 8 huyện, một thị xã thì 2 huyện phía Tây bắc là vùng cao núi đất và 4 huyện phía Đông bắc là vùng cao núi đá. Năm 2010 tổ chức unesco – Liên hiệp quốc đã công nhận vùng cao nguyên núi đá này là công viên địa chất Quốc gia và Quốc tế. Đây là công viên đá thứ 69 trong các công viên địa chất toàn cầu và thứ hai trong vùng Đông Nam Á.

    Ngày 03/10/2010, Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cao nguyên này có diện tích 2.350 km2, gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, độ cao trung bình 1.400-1.600 m, nơi tập trung nhiều loại hình di sản, nổi bật là di sản địa chất và di sản văn hóa. Ảnh: Thanh Hà.

    Khu vực phía Đông bắc Hà Giang gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được gọi một tên chung là cao nguyên Đồng Văn. Ở đây, đá chiếm đến 3/4 đất đai; người, vật, cây cối, sông suối bám vào đá để tồn tại, sinh sôi phát triển. Toàn bộ cao nguyên là di sản đa dạng địa chất, đa dạng cổ sinh địa tầng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế thuộc các lĩnh vực lịch sử tiến hoá của vỏ trái đất.

    Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng.

    Thị xã Hà Giang điểm khởi đầu của xứ sở cao nguyên đá. Con sông Lô hiền hoà phân đôi thị xã, phía hữu ngạn sông, phố xá, công sở nằm ven theo các chân dãy núi đá sừng sững; độ cao so với mặt biển của thị xã chỉ khoảng 400 mét, nhưng nhờ núi đá mà mùa hè khí hậu khá mát mẻ, dễ chịu không khác với Đà Lạt, Sapa bao nhiêu. Cao nguyên Núi Đá Đồng Văn là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Ai đến Đồng Văn cũng háo hức chinh phục độ cao của đỉnh kéo đến cổng trời Quản Bạ, dừng chân ngắm cảnh

    Rời khỏi thị xã là tiếp cận ngay với thế giới huyền bí của đá và mây trời. Con đường độc đạo từ thị xã qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc khi len lỏi giữa những rừng đá lởm chởm, lúc men theo những vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm; có đoạn lại vượt qua những ngọn đèo cao vút, quanh năm mây phủ dày đặc, dân địa phương gọi đó là cổng trời. Thế giới đá ấy đã hình thành mấy trăm triệu năm trước, trải qua quá trình phong hoá thầm lặng và dữ dội đã tạo thành những khu vườn đá với nhiều hình thù kỳ dị, đặc biệt, hấp dẫn. Đó đây, trong các thung lũng hẹp, lớp lớp các khối đá to nhỏ xếp gối lên nhau giống như những đàn gấu đen bóng, tựa vào nhau đang nằm nghỉ ngơi. Các dãy núi có hình dạng kim tự tháp nối tiếp nhau chạy dài từ nam lên bắc, đỉnh nhọn cao ngất ngưỡng, sườn dốc lởm chởm đá tai mèo. Khắp vùng Đồng Văn, Mèo Vạc lại có những chóp đá, tháp đá có hình dạng ngộ nghĩnh như những nụ hoa, bông hoa hoặc kiểu rồng cuộn, hổ ngồi… sự cấu tạo đa dạng này đã làm cho cảnh quan toàn miền cao nguyên không buồn tẻ, hiu quạnh như các khu vực chỉ thuần đá vôi cổ. Vùng này trước kia trồng nha phiến và buôn ma túy nổi tiếng; nay là vùng định cư của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã trồng rất nhiều đào, mận tam hoa(nectarine), v.v… chúng tôinúi RồngNơi có cột cờ cao 17m treo quốc Kỳ Việt Nam đánh dấu vùng lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc.Sau đó

    Cổng Trời Quản Bạ, ngắm Núi Đôi rồi mới khởi hành đi Lũng Cú.

    11h30 trưa, chúng tôi đến thị trấn Đồng Văn ăn trưa.

    13h30: chúng tôi lên xe đi tham quan Lũng Cú – Mảnh đất Cực bắc của Việt Nam.

    14h30: chúng tôi tham quan Cột Cờ trên đỉnh núi Rồng – di tích đánh dấu vùng lãnh thổ Việt Nam.

    Bên cạnh những vách đá màu xám trắng lại xen kẽ những dãy đồi đá phiến thoai thoải bao phủ một lớp cỏ mượt mà màu xanh lá mạ, khi nắng chiều rải xuống, màn cỏ ánh lên một màu vàng vàng, tim tím cực kỳ huyền ảo. Sông suối chảy qua cao nguyên cũng khá kỳ dị, bí ẩn. Những dòng nước trắng xoá, trong veo đang réo ầm ầm bên chân núi bỗng nhiên mất hút trong lòng núi đá rồi lại hiện ra dưới các hẻm vực vừa dài vừa rộng như một lát dao sắc ngọt xẻ đôi khối núi đồ sộ. Sự đa dạng, phong phú về sinh học của cao nguyên cũng hết sức độc đáo. Xen lẫn giữa những khối núi đá hùng vĩ là các khoảnh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn với nhiều loại gỗ, lâm sản, dược liệu quý hiếm như: nghiến, thông đá, tùng bách, dẻ, thảo quả, hương nhu, đỗ trọng, nấm hương, các loài phong lan v.v… Cao nguyên đá cũng là môi trường thân thiện của trên 50 loài thú, bò sát, chim muông như: sơn dương, gấu, vọc, khỉ, hoẵng, heo rừng, cầy hương, kỳ đà, trăn, gà rừng, trĩ, đại bàng, hoạ mi v.v… Hai loại cây được xem là những cây đặc trưng của vùng cao nguyên đá, gồm đào phai và mận tam hoa, sẽ được trồng dọc tuyến đường vào các điểm du lịch, điểm dừng chân, danh lam thắng cảnh, làng văn hóa du lịch cộng đồng, xung quanh trường học, trụ sở cơ quan, quanh các hồ chứa nước sinh hoạt. Trên đoạn đường phía Tây từ thị trấn Đồng Văn qua Mèo Vạc là ngọn đèo Mã pí lèng, một cảnh quan địa mạo tuyệt đẹp. Đứng trên đỉnh đèo ta có cảm tưởng chỉ vài sải tay là có thể với được tới trời. Dưới chân đèo, bên hữu, ở độ sâu hơn 1000 mét là dòng sông óng ánh bạc Nho quế, con sông lớn nhất của cao nguyên bắt nguồn từ Lũng Cú, luồn lách, ẩn hiện qua nhiều dãy núi đá để đưa nước về hợp lưu với sông Gâm, chi nhánh lớn của Lô giang.

    Cùng với những giá trị đặc hữu về địa chất, địa mạo, sinh học, cảnh quan… cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống đẹp đẽ của 22 dân tộc anh em cư trú nơi đây. Từ bao đời nay bà con các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã sáng tạo ra cách sản xuất, cách sống, ăn, ở… riêng biệt để thích nghi với môi trường thiên nhiên.

    Từ thị trấn Đồng Văn ngược thẳng về phía Bắc khoảng 20 cây số là xã Lủng Cú, mỏm địa đầu của đất nước, nhìn lên bản đồ Việt Nam, cái chóp nhô cao như một mũi mác, chính là đất Lủng Cú. Những ngọn núi xếp lớp đơn nguyên nơi đây là điển hình của loại đá trầm tích, loại đá cổ nhất của trái đất. Lũng Cú ở độ cao gần 1800 mét. Đứng giữa xứ sở này, ta có cảm giác như đang sống bồng bềnh giữa mây ngàn gió núi; mây trắng bời bời phủ che trên đầu, trôi lững lờ dưới chân, bao quanh lẩn quất bên mình.

    Tại thôn Séo Lũng, cách trung tâm xã gần 5 cây số có ngọn núi Rồng, cột cờ Tổ quốc dựng trên đỉnh núi, sát cột mốc số 17 biên giới Việt – Trung. Tên núi Rồng đã có từ lâu đời, do đồng bào địa phương đặt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên núi nơi địa đầu Tổ quốc với dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc ta. Lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54 mét vuông – tượng trưng cho 54 dân tộc anh em ngày ngày kiêu hãnh tung bay giữa trời xanh, khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc ta. Bao thế hệ qua, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, mọi áp lực, những người dân thuộc hai dân tộc kiên cường Mông, Lô Lô ở Lũng Cú đã không tiếc mồ hôi, xương máu để bảo vệ quốc kỳ, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng. Lớp lớp người dân Lũng Cú xứng đáng với niềm tin, sự kính phục của nhân dân cả nước.

    Cho đến nay, cảnh vật, con người trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang vẫn giữ được khá đậm đà những nét hoang sơ, kỳ vĩ, tinh khiết có sức lôi cuốn đối với du khách trong và ngoài nước.

    Phía tả đèo, một thung lũng hẹp hun hút dưới sâu với đôi ba chục nóc nhà nhỏ tựa lưng vào dãy núi đá vời vợi, một ngôi làng quá heo hút nhưng lại được khá nhiều người không chỉ Hà Giang biết đến, bởi hàng năm ở đây diễn ra một phiên chợ đặc biệt: chợ tình khau vai, mỗi năm chỉ họp một lần vào cuối mùa xuân. Gọi chợ tình là theo nghĩa thông tục, chứ ở đây, người về chợ là để giao lưu tình cảm, tình yêu đôi lứa, không hề có chuyện mua bán hiện đại. Chợ tình khau vai hay gọi đúng hơn ngày hội tình yêu – tình bạn là một trong những nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng của các dân tộc Đồng Văn.

    Những ngày hội dân gian, các ngày phiên chợ hàng tháng, người người từ các bản làng gần xa tụ hội về đông vui tấp nập, màu sắc trang phục sặc sỡ, đẹp mắt; cả không gian tràn ngập tiếng cười nói, lời ca ngọt ngào, âm thanh đàn, khèn, sáo du dương, quyến rũ. Người lớn tuổi, thanh niên không phân biệt nam nữ gặp nhau trong các hàng quán bình dân, tuỳ lứa tuổi và sức khoẻ, họ mời nhau chén rượu ngô thơm nồng, bát thắng cố béo ngậy, bát cháo ẩu tẩu vừa có vị đăng đắng lại ngòn ngọt… những món ẩm thực đặc sản, ai được thưởng thức một lần là nhớ mãi….

    Điểm cực Bắc của Tổ quốc và cũng là trung tâm của cao nguyên đá là thị trấn Đồng Văn. Nơi đây là xứ sở độc đáo về khí hậu và địa hình “Đất rộng mênh mông nhưng không được bao nhiêu thước bằng phẳng – Trời quanh năm không được vài ngày nắng”. Khu phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 19. Tuy thời điểm xây dựng không đồng nhất nhưng cung cách kiến trúc đều có nét khá tương đồng: nhà hai tầng, tường đá xanh, khung nhà gỗ không có mộng thắt, không chạm trổ cầu kỳ, mái lợp ngói âm dương… Hiện nay còn lưu giữ 20 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Dinh thự họ Vương và khu phố cổ Đồng Văn đã được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Phố thị Đồng Văn còn là nơi tiêu biểu của những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cao nguyên.

    Thời Pháp thuộc, Vương Chính Đức đã giành được quyền tự trị đất Đồng Văn. Người kế nhiệm Vương Chí Thành đã ngăn giữ không cho người Nhật xâm nhập vào Đông Văn. Cách mạng tháng 8 thành công, Vương Chí Thành giao đất Đồng Văn cho chính quyền cách mạng quản lý. Bác Hồ kết nghĩa huynh đệ với Vương Chí Thành, những năm 60 thế kỷ trước ông được Bác Hồ mời về sống ở Hà Nội để có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tuổi già.

    Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc dân gian dân tộc ấy là dinh thự họ Vương ở Sà phìn, cách thị trấn Đồng Văn khoảng 10 cây số. Đây là dinh thự của Thổ ty Vương ChínhĐức. Đầu thế kỷ thứ 20, khi chấp chính ngôi vị Thổ ty – một chức quan cai trị Đồng Văn, Vương Chính Đức triệu thợ giỏi các tộc người Mông, Lô Lô, Phù Lá… các địa phương trong vùng về xây dựng dinh thự. Toàn bộ 10 ngôi nhà ngang, dọc rộng hơn 1200m2, các dãy nhà phụ, tường rào bao quanh đều xây bằng đá. Từng chi tiết xây cất, đẽo gọt đá, gỗ ván đã thể hiện sự khéo léo, tinh tế, đặc sắc của tay nghề những người thợ dân gian bản địa.

    Những khoảnh đất trong các thung lũng giữa trùng vây đá núi được kết cấu thành những mảnh ruộng bậc thang; tận dụng các hốc đá tai mèo, bà con đã gùi đất lên bỏ vào từng hốc để gieo ngô, đậu. Vào mùa hè, mùa mưa ở cao nguyên, lúa, ngô, đậu, lanh, tam thất, hương nhu… trên nương rẫy, hốc đá vách núi tốt tươi xanh mướt hoà lẫn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dại và cỏ mật. Nhà cửa, bờ rào vườn tược, chuồng gia súc đều xây dựng bằng đá. Nghệ thuật kiến trúc đá đã đạt mức độ tinh xảo.

    dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn

    Trong tour du lịch về miền đá Đồng Văn, Lũng Cú, không ai muốn bỏ qua cơ hội thăm di tích nhà họ Vương, một dinh thự cổ ngủ vùi giữa thung lũng sa mộc, hội tụ nhiều giá trị kiến trúc Trung Hoa và người Mèo Hà Giang. Người ta vẫn gọi đây là dinh vua Mèo.

    Mái ngói âm dương phân lớp theo kiến trúc cổ

    Dinh vua Mèo ở huyện Đồng Văn, cách Hà Nội chừng 500km, sau khi vượt qua những chặng đường men theo sườn núi, ngoằn ngoèo như những sợi chỉ, vượt qua Cổng trời Quản Bạ. Nơi đây, một thời, ông Vương Chính Đức đóng Cổng trời lại, xưng vương. Miền đá tỉnh Hà Giang hiếm có một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo thế này. Mấy chục năm qua, những ai lên đến Hà Giang thường không bỏ qua di tích này.

    Nhà họ Vương nằm nép mình dưới tán rừng cây sa mộc cổ thụ, cao vút. Những phần nhà xuống cấp đã được phục hồi nguyên trạng. Toàn bộ hệ thống tường thành được xếp bằng đá nhẵn thín với phiến đá to, chẳng cần vôi vữa mà vẫn vững chắc. Nhà được bố trí theo kiểu cung điện Trung Hoa, được phân ra nhiều khu: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà kho, phòng của vợ ông Vương Chính Đức, hay nhà thờ. Trước cổng của ngôi nhà là ngôi mộ bằng đá chạm khắc tinh vi, là mẹ ông Vương Chí Sình, đại biểu Quốc hội các khoá I, II, III. Nơi đây còn lưu giữ một số hình ảnh về ông vua mèo oai phong lẫm liệt. Qua cổng chính là đến ba, bốn lần cổng nhỏ. Dọc hai bên hành lang của dãy nhà cao nhất là dãy nhà ngang, nhà dọc, bố trí từ thấp lên cao (theo lối kiến trúc Trung Hoa), phần trên là ảnh thờ ông Đức phóng to khi còn làm bang tá. Có cầu thang đi lên khu pháo đài, lỗ châu mai, có kè đá tảng. Các hạng mục chủ yếu được phục dựng bằng gỗ và đá. Một số đồ dùng xưa như tủ quần áo, lò sưởi của gia đình họ Vương vẫn được lưu giữ như những tín vật.

    Sáng ngày thứ 6, chúng tôi dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành đi chúng tôi khởi hành đi chúng tôi tiếp tục khởi hành về thị xã Hà Giang nhận phòng, ăn tối. thăm quan chợ Đồng Văn. Sau đó, chúng tôi thăm Lũng Cú điểm cực Bắc địa đầu tổ Quốc, thăm quan và chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc cực Bắc địa đầu tổ Quốc. Ăn trưa tại thị trấn Yên Minh, sau đó Nghỉ đêm tại Hà Giang.

    Sáng ngày thứ 7, dùng điểm tâm tại khách sạn, khởi hành theo quốc lộ 2 qua Chiêm Hoá và đường 279. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng.

    đi thuyền Chiều: Tới Ba Bể chúng tôi tham quan dọc theo Hồ 1, Hồ 2 và Hồ 3 tham quan động Puông bí ẩn, thác Đầu Đẳng kỳ vĩ, thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá. Thích nhất là đi du thuyền thăm hồ Ba Bể, hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi đi thăm đảo An Mã, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên trước khi dùng bữa tối & nghỉ đêm tại Ba Bể.

    đảo Pò Gia Mải (đảo Bà Goá)

    Sáng ngày thứ 8, dùng điểm tâm tại khách sạn, trả phòng, tới Cao Bằng khởi hành đi Cao Bằng theo quốc lộ 3. Qua 250km, chúng tôi TX Cao Bằng

    Chiều: Đi thăm khu du lịch thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam nằm ở địa phận xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn . Thác Bản Giốc là thác đẹp thuộc hàng đệ nhất danh thác Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới VN và Trung Quốc, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km, theo tỉnh lộ 206 về phía bắc.Điều thú vị trong chặng đường gần 400 km từ Hà Nội lên tới thác Bản Giốc, là du khách có thể tha hồ ngắm cảnh đẹp. Qua cửa kính xe ô tô, núi rừng hùng vĩ xen kẽ trùng trùng điệp điệp nối vào nhau. Những cánh đồng ngát xanh, vạt hoa dại bên đường, nếp nhà yên bình nép mình bên núi, bầy trâu lọt thỏm giữa cánh đồng làm nao lòng du khách.

    Thác Bản Giốc nằm trong dòng chảy sông Quây Sơn, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua biên giới hai nước VN và Trung Quốc, uốn lượn quanh chân núi Cô Muông, qua những cánh đồng thuộc địa phận Đàm Thủy. Gần cuối dòng chảy, dòng sông Quây Sơn đổ từ độ cao hơn 30 mét xuống dưới chân núi tạo thành dòng thác hùng vĩ, sủi bọt trắng xóa. Thác Bản Giốc được chia làm hai phần, phía nam là thác cao, phía bắc là thác thấp. Thác thấp là thác chính, hùng vĩ hơn, tiệp mình vào núi rừng rộng lớn nay đã thuộc TQ. Hôm chúng tôi đến, nhìn từ xa, dòng nước chảy từ trên cao xuống tựa những sợi tơ trắng xóa đang nằm vắt vẻo uyển chuyển trên núi rừng hoang sơ. Nước sủi tung bọt, ầm vang. Ánh nắng hắt trên nước, lấp lánh sáng. Vẻ đẹp, sự thuần khiết, hùng vĩ hòa quyện vào nhau.

    Dòng sông dưới chân thác khá phẳng lặng, có thể đi thuyền tham quan. Ở đây có dịch vụ chèo thuyền đưa khách tham quan toàn bộ thác Bản Giốc và những cánh rừng, đồng ruộng bên bờ Quây Sơn. Cuối chiều, mặt trời xuống, ngắm nhìn thác nước tuôn trào, cảm giác thật lạ. Gió biên cương thổi lành lạnh, nhìn mặt sông xanh ngắt, lại ngước lên nhìn dòng nước tuôn trào, tựa như phun ra từ núi, đủ khiến niềm xúc cảm không tên trong lòng trỗi dậy.

    Ở Bản Giốc, đến nay vẫn chưa phát triển dịch vụ ăn, ngủ cho khách du lịch. Vì vậy, chiều buông, chúng tôi phải lên xe về lại thị trấn Trùng Khánh tìm chỗ nghỉ ngơi. Nhưng không vì trở ngại nhỏ đó mà du khách phiền lòng. Bởi, chính sự hoang sơ nơi ngọn thác biên cương là điều làm người ta thấy thú vị.

    rả phòng rồi khởi hành đi qua 200km để tham quan Pác Bó có nghĩa là “đầu nguồn” theo tiếng bản địa. Nơi đây được coi là cội nguồn của Cách mạng Việt Nam bởi địa danh này gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và cách mạng nước ta những năm 1941-1945, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi của Hồ Chí Minh lúc đó) đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Sáng ngày thứ 9, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi t khu di tích Pắc Bó – nơi ở và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến từ 1941 đến 1945. Quốc Từ thị xã Cao Bằng đi tiếp 52km đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng du khách có thể tới thăm Khu di tích Pác Bó. đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng Tám năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập” – cơ quan truyên truyền của Mặt trận Việt Minh, thành lập đội du kích Pác Bó.

    Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Quốc đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Quốc trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đầu tháng 12/1944, tại Nà Sác, Quốc đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 04/05/1945, Quốc rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 20/02/1961, Hồ chí Minh về thăm lại Pác Bó sau 20 năm xa cách.

    Sáng ngày thứ 10, dùng điểm tâm tại khách sạn xong rồi đi thuyền tham quan Hồ Núi Cốc ; ăn trưa xong, chúng tôi khởi hành về Hà Nội.

    Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.

    Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

    Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

    – Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Hmông, Dao, Tày, Giáy… trong đó người Hmông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, còn lại là các dân tộc khác.

    – Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất, Lào Cai được chia thành 8 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và thị xã Lào Cai.

    – Ngày 7/5/1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

    – Ngày 27/3/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

    – Ngày 17/4/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

    – Ngày 12/8/1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 10/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.

    – Ngày 9/ 6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.

    – Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

    – Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.

    – Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

    – Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

    Thắng cố là một món ăn của dân tộc Mông. Thắng cố biến âm của tiếng Thoảng, cố theo tiếng Mông có nghĩa là “nồi nước”. Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa, cách nấu cũng rất đơn giản. Thịt được ướp với muối, mỳ chính, thảo quả. Sau đó đổ thịt vào trong một cái chảo lớn, đảo đều cho miếng thịt săn lại thì đổ nước vào.

    Bây giờ, thắng cố thường không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng có lẽ ngon nhất vẫn là thịt bò. Khi con vật được giết mổ, rửa sạch và để riêng từng bộ phận, lấy xương chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịt chín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào.

    Ta có thể thấy niềm vui, sự đam mê, sự trân trọng cội nguồn của từng người Mông khi nấu món thắng cố. Họ cẩn thận ướp gia vị cho từng miếng thịt thơm đậm đà, múc từng muỗng bọt cho nồi nước thêm trong. Nồi thắng cố to sôi lục bục nổi lên những tảng mỡ to màu vàng nhạt điểm xuyến bằng những lá hành xanh ngắt, mùi thơm của thịt, của thảo quả, địa điềm quyện lại khiến ta có cảm giác chìm đắm trong tinh hoa thiên nhiên của đất trời ban tặng.

    Vào quán gọi món thắng cố, ít phút sau thắng cố được mang lên. Đó là một cái nồi lẩu, như mọi cái nồi lẩu khác. Nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút, chỉ cần ngửi mùi thôi là cảm giác thèm ăn trỗi dậy.

    Chai rượu được rót ra. Đây là rượu nấu bằng gạo, nhưng không phải là thứ men như ở dưới xuôi. Nó trong vắt, thơm ngái một chất lá và được giới thiệu là uống không bao giờ đau đầu.

    Lượt thứ nhất lách cách cụng, dốc ngược đáy chén. Rồi những đôi đũa thay nhau lật tìm trong nồi lẩu ăm ắp. Đây là miếng dạ dày, đây là miếng ruột non, đây là miếng tiết, đây là miếng gan… Còn đây miếng cật, miếng tim, miếng vai… Tất cả được thái nhỏ, vừa gắp. Đúng là có mùi là lạ, đặc trưng, nhưng ăn được ngay, thấy ngon được ngay. Lại thêm bát tương, thìa gia vị, miếng chanh, lát ớt, đĩa rau thơm, rổ rau cải… Cái món thắng cố xa lạ đã thành gần gũi. Rượu cứ thế rót ra nhộn nhịp, thôi thì đủ lý do để dốc ngược chén cùng nhau. Uống rồi bắt tay, bắt tay thật chặt. Người ta bảo uống rượu Tây Bắc là uống mỏi tay.

    Vào một ngày đông lạnh giá còn gì thú vị hơn là ngồi ăn một tô thắng cố nóng hổi, nhấm chén rượu ngô nóng, hàn huyên cùng bạn bè. Đây cũng là một nét văn hoá rất điển hình trong phong cách sống của người Mông.

    Du khách đến Tây Bắc, lên những dãy núi hùng vĩ, ngồi bên hồ nước trong vắt và trong những niềm vui giản dị đơn sơ là bát thắng cố và rượu ngô nóng. Mùi thơm ấy, hương vị đậm đà quyến rũ ấy có lẽ sẽ không bao giờ quên được, nó sẽ đọng lại trong mỗi người khách khi đặt chân lên vùng đất đẹp và hiền hoà này.

    Làng Cát Cát thuộc huyện Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa-Pa 2km.

    Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống

    Bản Cát Cát trong sương sớm

    Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng… Kiến trúc nhà cửa của đồng bào nơi đây còn nhiều nét cổ như nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu hay bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang…

    Làng Cát Cát có 100% đồng bào dân tộc Mông với nghề thủ công truyền thống là nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

    Trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm –

    sản phẩm thủ công truyền thống của bản Cát Cát

    Một điều hấp dẫn nữa của làng Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ hay các lễ hội được tổ chức vào các thời điểm đầu xuân hoặc tháng cuối hè và mùa thu. Tuy chỉ có quy mô nhỏ và diễn ra trong phạm vi của làngvới các nghi lễ cúng “thổ ty” – “thổ địa” – những vị thần được thờ là những người có công lập làng nhưng mang đậm nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng độc đáo của dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam.

    Tôi cũng có dịp tìm hiểu về các món ăn độc đáo của dân tộc Mông. Người Mông ở Cát Cát có rất nhiều món ăn với cách chế biến phong phú độc đáo: rượu ngô Mông, thắng cố, thịt hun khói “khăng gai”, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, món đậu xị…

    Cát Cát là điểm du lịch tìm hiểu văn hóa người dân tộc gắn với thiên nhiên hoang sơ, một địa chỉ thích hợp cho những khách du lịch đã mệt mỏi với đời sống đô thị.

    đi qua cầu treo tới thăm thuỷ điện cũ của người Pháp. thác Cát Cátt nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn

    Chiều: chúng tôi đi mua sắm đồ lưu niệm tại chợ Sapa, khám phá thị trấn Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi chơi quanh thị trấn Sapa, tham gia phiên chợ vùng cao cùng đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, mua sắm các mặt hàng lưu niệm tại chợ Sapa, ăn trưa tại nhà hàng địa phương trước khi làm thủ tục trả phòng và trở lại thành phố Lào Cai. Chúng tôi ghé ăn trưa và mua sắm tại Chợ Mậu Biên Cốc Lếu. Ăn tối tại nhà hàng thành phố Lào Cai trước khi đáp chuyến tàu về Hà Nội. Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến đi từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn

    Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là Đông Bắc để phân biệt với vùng Tây Bắc, còn thực chấ vùng Việt Bắc. Vùng Đông Bắc là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng). Đôi khi vùng Đông Bắc bao gồm cả Đồng bằng sông Hồng.

    Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.

    Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000-1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.

    Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.

    Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là “vùng trung du”. Độ cao của phần này chừng 100-150 m.

    Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…

    Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

    Nhà thờ đá Sa Pa

    Lịch sử

    Cơ sở lục địa của miền Đông Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền Đông Bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.

    Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0 °C và có mưa tuyết thậm chí tuyết. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Phá đường” từng nhắc đến cái rét ở đây: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”.

    Phạm vi hành chính

    Sắc tộc và văn hóa

    Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như “Hà Giang quê hương tôi” và còn rất nhiều bài hát khác.

    Vùng Đông Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Đông Bắc do Quân khu 1 bảo vệ.

    Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở : Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

    Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v… Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v… Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc.

    vườn Quốc gia Ba Bể (cách Hà Nội khoảng 250 km), thăm Bến Chòi.

    Đến với Ba Bể, du khách có dịp du ngoạn trên hồ bằng thuyền độc mộc để cảm nhận và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên với Động Puông, Ao Tiên, Thác đầu Đẳng, Bản Pác Ngòi, tìm hiểu cuộc sống, văn hoá cũng như tập quán của các bản làng dân tộc sống trên triền núi bên hồ.

    Thác Bản Giốc – Một trong những dòng thác hùng vĩ nhất Việt Nam tại biên giới Việt – Trung, thăm động Ngườm Ngao.

    Ngày 04: Cao Bằng – Lạng Sơn – Hà Nội (Ăn sáng,trưa)

    11h00: Đến Lạng Sơn quý khách dùng cơm trưa tại nhà hàng. Chiều mua sắm tại chợ Đông Kinh. 15h00: Xe đưa quý khách về Hà Nội, dừng chân tại Thị Trấn mẹt nghỉ nghơi, mua các sản vật địa phương.

    19:00 Về đến Hà Nội. Chia tay quý khách. Kết thúc chương trình.

    Đường lên Đồng Văn uốn lượn, điệp trùng với đá và đá

    Thắng cố – món ăn truyền thống của người dân tộc tại chợ phiên Đồng Văn

    Một ngôi nhà cổ tại Đồng Văn, được xây bằng tường trình – là đất nện theo khuôn – giúp cho đông ấm, hè mát

    Có được tour “đi núi, về sông” ấy là nhờ từ đầu 2008, khi cửa đập thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) đóng lại, mực nước khu vực lòng hồ dâng lên giúp thông suốt tuyến đường nối huyện Bắc Mê (Hà Giang) với Na Hang theo sông Gâm và nối với hồ Ba Bể qua sông Năng.

    Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng – cực Bắc của tổ quốc – với lá cờ có diện tích 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Để leo lên đến nơi, bạn phải trèo qua 283 bậc thang

    Vì thế tuyến đường thủy Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Kạn được kéo lại gần. Một công ty lữ hành phía Nam đã phát hiện ra hành trình này, sau nhiều lần thử nghiệm, quyết định đưa vào khai thác tour từ cuối năm 2010.

    Dòng Nho Quế uốn lượn quanh các vách núi dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng

    Bắt đầu hành trình vượt sông Gâm, sông Năng vào hồ Ba Bể

    Núi đã vôi trên sông Gâm, cảnh đẹp không khác vịnh Hạ Long

    Những gốc cây còn sót lại của khu rừng nguyên sinh bị dòng sông vùi lấp

    Nếu sông Lô lững lờ lượn dọc con đường lên với Đồng Văn, sông Nho Quế như dải lụa vắt ngang những dãy núi dựng đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, thì sông Gâm, sông Năng… hoang sơ, bình yên đến kỳ lạ. Đó là nhờ dòng sông ấy nằm lọt giữa khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bu.

    Một ngôi chùa trầm mặc giữa lòng sông

    Tàu chở khách cứ thế lướt nhẹ giữa hai bờ là núi đã vôi ẩn hiện. Lấp ló đâu đó vài chiếc thuyền buông lưới. Một vài gốc cây khô trơ trọi đột ngột hiện trên mặt nước như tiếc nuối cái thuở còn là nguyên sinh, nay đã bị sông vùi lấp. Một đàn trâu thơ thẩn gặp cỏ ven sông… Trong khung cảnh thơ mộng ấy, muộn phiền của cuộc sống thường nhật tan biến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Điểm Du Lịch Đẹp Nhất Mù Căng Chải
  • Hương Vị Đất Trời Tây Bắc
  • Dân Mạng Bồi Hồi Nhớ Về Chiếc Muỗng “huyền Thoại” Của Làng Ẩm Thực Việt, Trông Cực Lạ Lẫm Nhưng Cứ Ăn Món Này Là Không Thể Thiếu
  • ‘ngắm Đã Mắt, Ăn Đã Miệng’ Ở Gánh Xôi 30 Năm Tuổi Đẹp Nhất Sài Gòn
  • Xôi Khúc Quê Nhà, Miếng Ngon Ấm Lửa
  • Cách Chế Biến Gạo Nếp Cẩm Thành Những Món Ngon

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Gạo Nhật Làm Sushi Mềm Dẻo, Kết Dính Ngon Đúng Chuẩn
  • Mua Gạo Nhật Bản Giá Rẻ Ở Đâu? Gạo Nhật Bản Giá Rẻ Tại Tphcm
  • Cách Làm Món Sushi Gạo Lứt Thơm Ngon
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Cơm Sushi Ngon Của Người Nhật
  • Cách Trụng Sợi Hủ Tiếu Ngon Và 4 Món Ngon Từ Hủ Tiếu
  • Nếp cẩm còn gọi là nếp than (ở nước ta, nếp than có tới 2 loại: than lợt (đỏ đậm) khi nấu rượu sẽ thành màu đỏ và than đen (tím đen) khi nấu rượu sẽ thành màu tím đậm) hay còn gọi là gạo đen.

    Gạo Nếp cẩm còn được biết đến với tên gọi là “bổ huyết mễ”, đây là một loại gạo được đánh giá cao vì có thành phần dinh dưỡng rất cao và bổ dưỡng. So với các loại gạo tẻ và gạo nếp khác khác, gạo nếp cẩm có hàm lượng protein cao hơn hẳn 6,8% và chất béo tốt chơ sức khỏe cao hơn 20%. Ngoài ra, trong gạo nếp cẩm còn có chứa tới 8 loại axit amin khác nhau cùng carotene và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể

    Gạo nếp cẩm có tác dụng bảo vệ, chăm sóc và mang đến giá trị cho sức khoẻ, đặc biệt là những người gầy, người muốn tăng cân, phụ nữ mới sinh, người mới ốm dậy, thanh niên đang tuổi phát triển…

    Cơm nếp cẩm có thể làm hạ được nồng độ cholesterol có hại trong máu Tác dụng của nếp cẩm

    Gạo nếp cẩm có tác dụng bổ máu nên có tên là “bổ huyết mễ” do có nhiều protein, chất béo hơn các loại gạo khác và chứa tới 8 loại axit amin rất tốt cho sức khỏe. Nó cũng rất tốt cho tim mạch nhờ trong gạo nếp cẩm có chứa hoạt chất ergosterol và lovastatin là chất giúp hạn chế các tai biến về tim mạch, giúp tái tạo thành mạch máu.

    Rượu nếp cẩm còn giúp làm giảm cholesterol trong máu. Rất tốt cho tiêu hóa và dạ dày nhờ tính chất gạo nếp cẩm có vị ngọt, tính ẩm, dễ tiêu hóa, làm ấm bụng. Do vậy cơm nếp cẩm rất có lợi đối với những người thường gặp bệnh về tiêu hóa hoặc mắc các căn bệnh về dạ dày.

    Gạo nếp cẩm chứa nhiều chất xơ không hòa tan, có công dụng điều trị một số bệnh về ung thư tuyến tính, trực tràng.

    Gạo nếp cẩm còn tác dụng làm đẹp da cho phái nữ: Lớp màng đen bên ngoài cùng của gạo nếp cẩm chứa nhiều vitamin E. Đặc biệt, rượu lên men gạo nếp cẩm còn chứa nhóm vitamin B cùng nhiều hoạt chất có lợi khác.

    Gạo nếp cẩm có tác dụng bổ máu do có nhiều protein, chất béo hơn các loại gạo khác và chứa tới 8 loại axit amin rất tốt cho sức khỏe.

    Các nhà nghiên cứu đã tiến hành trên những người bệnh mắc chứng dị ứng với các loại thuốc hạ huyết áp thì thấy rằng cơm nếp cẩm có thể làm hạ được nồng độ cholesterol có hại trong máu. Tiến hành nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân. Một nhóm dùng thuốc hạ huyết áp, còn nhóm kia ăn cơm rượu nếp cẩm. Cả 2 nhóm này đều tham gia vào chương trình điều trị bằng cách thay đổi lối sống. Công trình nghiên cứu cho thấy sau 12 tuần và sau 24 tuần, lượng cholesterol (gồm cholesterol có hại và tổng mức cholesterol) giảm nhiều ở nhóm ăn cơm gạo nếp cẩm.

    Những nghiên cứu khác cũng cho rằng gạo nếp cẩm là siêu thực phẩm chống ung thư. Nhóm nghiên cứu từ Đại học bang Louisiana (Mỹ) đã phân tích mẫu cám lấy từ gạo nếp cẩm. Họ phát hiện thấy chúng chứa hàm lượng rất cao chất chống oxi hóa anthocyanin – một chất có tiềm năng chống lại bệnh ung thư, tim mạch và nhiều bệnh khác. Anthocyanin tạo ra màu đen sẫm cho nhiều loại rau, quả như việt quất, ớt… Các nhà nghiên cứu cho rằng chất chống oxi hóa màu đen này giúp bảo vệ thành mạch và ngăn ngừa sự phá hủy ADN – yếu tố dẫn đến ung thư.

    Theo UPI, gạo nếp cẩm có màu đen sẫm, khi nấu lên sẽ chuyển thành màu tím sẫm. Nó chứa nhiều khoáng chất và một vài loại amino axit.

    Cách chế biến gạo nếp cẩm ngon bổ, hấp dẫn

    * Rượu nếp cẩm: Đây là cách làm thông dụng nhất cách làm cũng khá đơn giản chỉ cần nguyên liệu gạo cẩm, men rượu và đồ thổi sôi. Gạo nên ngâm qua đêm cho nở sau đó thổi như thổi sôi cho vừa nước thêm men gạo ủ kín sau 2 ngày là bạn có thứ rượu nếp cẩm ngon và bổ dưỡng. Rượu nếp cẩm có thể đổ rượu vào ngâm là quý ông có bình rượu nếp cẩm tuyệt ngon đãi khách khứa

    * Sữa chua nếp cẩm: Sữa chua nếp cẩm được rất nhiều chị em mê mẩn không chỉ làm thực phẩm mà còn được dùng làm đẹp da cho chị em. Có thể nấu nếp cẩm rồi trộ với sữa chua hoặc dùng nếp cẩm đã lên men như trên để trộn cùng sữa chua là bạn đã có món ăn khoái khẩu mà bổ dưỡng

    Sữa chua nếp cẩm

    * Xôi nếp cẩm: Nấu như xôi bình thường là bạn đã có món xôi rất độc đáo cũng như món ăn bổ dưỡng cho gia đình

    * Chè nếp cẩm: Đây cũng là món được rất nhiều chị em yêu thích khi nấu cho gia đình

    * Rượu nếp than (nếp cẩm): Nếp có màu tím đỏ. Cách làm như với nếp lức (phân lượng 1kg nếp) nhưng thời gian sẽ để lâu hơn với mục đích lấy nước rượu để uống. Lưu ý vài chi tiết như sau:

    Cho xôi đã trộn men vào 2/3 thể tích vật chứa như hũ, lọ với nửa lít rượu trắng trên 40 độ. Đậy kín để ở chỗ thoáng mát, không có ánh sáng chiếu trực tiếp vào, nơi bóng tối càng tốt.

    Để trong 15 – 17 ngày, quan sát thấy hạt xôi chuyển thành dạng bột hoàn toàn và lắng xuống đáy hũ thì nhẹ tay chắt lấy phần nước rượu trong ở trên ra bình chứa khác (phần rượu có chất bột để riêng, đậy kín rồi để thêm 15 ngày nữa vẫn trong chỗ thoáng mát, không có ánh sáng… là uống được. Tùy ý có thể cho thêm nước đường và rượu trắng vào để thay đổi chất lượng rượu.

    Rượu nếp cẩm còn giúp làm giảm cholesterol trong máu

    Chú ý: Cơm rượu có thành công hay không là do viên men cũ hay mới, tốt hay xấu.

    Rượu nếp cẩm hạ thổ: Người ta hay nói rượu cẩm hạ thổ bách nhật là rượu nếp làm bằng nếp than chôn dưới đất 100 ngày. Xôi nấu bằng nếp than, khi làm rượu xong cho màu rượu rất giống màu lá cẩm nấu ra.

    BS. Hoàng Tuấn Long

    Chôn rượu dưới đất là một hình thức ủ cất truyền thống, đơn giản những loại rượu ngắn ngày của vài quốc gia Á đông. Hình thức này tương tự ở châu Âu, người ta ủ rượu trong những hầm sâu (cave) dưới đất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gạo Nếp Cẩm Là Gì? Tác Dụng Và Cách Chế Biến Gạo Nếp Cẩm (Nếp Than)
  • Gạo Lứt Muối Mè: Cách Chọn Gạo Và Cách Nấu Đơn Giản
  • Cách Nấu Cơm Gạo Lứt Muối Mè Để Giảm Cân Hoặc Chữa Bệnh
  • Cách Làm Gạo Lứt Rang Rong Biển Muối Mè Bổ Dưỡng
  • Cách Nấu Cơm Gạo Lứt Ngon Bằng Nồi Cơm Điện Và Nồi Cơm Thường
  • Cách Chế Biến 4 Món Ngon, Đại Bổ Từ Thịt Vịt

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Món Ăn Ngon Từ Thịt Vịt Nấu Một Lần, Ăn Cả Ngày Chẳng Cần Thêm Món Khác
  • Lên Thực Đơn Cuối Tuần Với Món Nhím Nướng Muối Ớt Độc Lạ
  • Thịt Nhím Có Tác Dụng Gì? Giá Bao Nhiêu Tiền 1Kg? Làm Món Gì Ngon?
  • Cách Chế Biến Tinh Bột Nghệ Tại Nhà
  • Cách Làm Tinh Bột Nghệ Thủ Công Tại Nhà
  • Thịt vịt tính hàn, có tác dụng tư âm, dưỡng vị. Đây là loại thịt giàu dinh dưỡng, không chỉ có hàm lượng đạm cao mà còn giàu sắt, vitamin E, D, A, B1, B2, phốt pho, canxi, axít nicotic…

    Cách nấu vịt om sấu

    Nguyên liệu:

    – Vịt 1 con (vịt cỏ già, ít mỡ thì hợp với món này)- Sấu: 10-15 quả quả tùy độ già của sấu- Gừng, sả, nấm hương, rau thơm- Nước dừa xiêm hoặc cốt dừa (nước dừa xiêm thì ngon hơn)- Khoai môn hoặc khoai sọ- Mắm muối, tiêu, sa tế.

    Cách làm

    – Vịt xát sơ gừng trên da rồi chặt miếng vừa ăn, xếp vào tô, tẩm ướp sa tế, mắm, muối, xíu đường, tiêu- Khoai môn/khoai sọ chiên sơ- Xào vịt trên chảo chống dính, không dùng dầu mỡ cho hơi săn miếng thịt- Cho vịt vào nồi, đổ nước dừa xiêm hoặc cốt dừa xâm xấp- Khi ăn bày theo kiểu ăn lẩu, ngồi vào mâm hoặc sắp đơm ra bát mới thả sả đập dập, gừng, ít rau thơm, khoai môn rán và sấu vào, đun cho sôi lại.- Món này ăn kèm cà muối xổi, rau muống vặt sơ lá để nguyên cọng dài- Đồ chấm có thể là mắm chanh tỏi hoặc gia vị chanh ớt tùy khẩu vị.

    Cách nấu vịt xáo măng tươi

    Nguyên liệu: 1 con vịt cỏ, măng tươi, rau ngò gai, hành lá, gừng, tỏi, gia vị.

    Sơ chế:

    Vịt mua về rửa sơ qua với nước. Sau đó, đập dập một ít gừng tươi, chà xát khắp thân vịt để khử sạch mùi gắt. Chặt thịt thành miếng vừa ăn rồi để ráo nước.

    Măng rửa sạch rồi cho vào xoong luộc khoảng 15-20 phút. Sau đó, vớt măng ra cho ngay vào thau nước đá lạnh. Tiếp đến, để măng ráo nước rồi cắt miếng vừa ăn.

    Rau ngò gai và hành lá rửa sạch, xắt nhỏ; hành, tỏi giã nhuyễn; phần gừng tươi còn lại xắt sợi mỏng.

    Cách nấu

    Bắc chảo lên bếp, vặn lửa lớn sao cho chảo nóng già thì cho vịt vào. Áp chảo đến khi phần da ra hết mỡ. Cách làm này giúp món ăn không bị nổi váng mỡ, đồng thời các thớ thịt vịt sẽ săn vào, dễ thấm gia vị và thơm ngon hơn.

    Sau khi áp chảo xong, trút thịt ra tô. Ướp thịt với 1 muỗng cà phê nước mắm ngon, 1/2 muỗng cà phê muối và hành, tỏi băm nhuyễn. Trộn đều thịt vịt, để khoảng 30 phút cho thấm gia vị.

    Tiếp tục bắc chảo lên bếp, thêm dầu ăn rồi phi thơm hành, tỏi. Tiếp đến, trút măng vào xào khoảng 3 phút cùng một ít gia vị gồm: 1 muỗng cà phê nước mắm, 1 muỗng cà phê hạt nêm.

    Bắc xoong lên bếp, phi thơm hành tỏi rồi cho thịt vịt và 1 ít gừng xắt sợi vào, xào nhanh với lửa lớn. Khi thịt vịt săn lại, thêm khoảng 800ml nước. Khi nước sôi thì hạ lửa nhỏ liu riu, nấu sao cho vịt vừa chín tới.

    Khi thịt vịt đã chín, tiếp tục cho măng tươi vào, nấu thêm khoảng 3 phút thì nêm nếm lại gia vị. Như vậy, món vịt xáo măng đã hoàn thành.

    Múc vịt xáo măng ra tô, rắc thêm ít hành lá, ngò gai và tiêu xay để món ăn dậy hương thơm hấp dẫn.

    Cách làm món vịt rang muối

    Nguyên liệu: 1 con vịt cân nặng trên 1kg để thịt dày hơn; 1 quả trứng gà, 5 cây sả, rượu trắng, bột năng, gừng tươi, gia vị.

    Nguyên liệu làm muối: Gạo nếp: 300 gram; Gạo tẻ: 300 gram; Muối tinh: 50 gram; Đậu xanh sạch vỏ: 50 gram.

    Cách làm

    Làm muối rang:

    Những nguyên liệu dùng để làm muối kể trên, bạn đãi từng loại riêng biệt thật sạch. Mỗi loại cho vào một chén khác nhau sau đó đổ nước vào trong rồi ngâm 20 phút. Sau đó vớt ra, vẫn để riêng từng loại.

    Sau khi đã ráo nước hoàn toàn, cho từng loại lên chảo rồi rang riêng cho tới khi có mùi thơm.

    Muối tinh cũng được bắc lên chảo và rang đều cho thật mịn.

    Cho các nguyên liệu đó vào máy xay sinh tố rồi xay. Nên nhớ không nên xay quá mịn.

    Làm thịt vịt:

    Khử mùi hôi của thịt vịt bằng cách dùng rượu và gừng chà lên da của vịt. Sau đó rửa sạch với nước rồi để vịt ráo nước. Thịt vịt chặt thành từng khúc vừa ăn.

    Trứng gà lấy phần lòng trắng, sả bỏ phần gốc và lá rồi cắt thành lát mỏng.

    Thịt vịt cho vào một cái tô rồi thêm bột nêm và trứng gà vào trong, trộn đều sau đó để ngấm trong khoảng 15 tới 20 phút. Không nên cho nhiều hạt nêm vì sẽ có thể làm thịt vịt mặn.

    Để bột năng ra ngoài trong một cái đĩa, lấy từng miếng thịt vịt lăn qua phần bột năng sao cho bột phủ đều bề mặt của miếng thịt vịt.

    Cho sả vào chảo dầu vừa chiên vịt xong cho tới khi chuyển vàng thì vớt ra.

    Làm nóng chảo khác sau đó cho phần thịt vịt chiên vào. Cho 2 – 3 muỗng muối rang vào chảo rồi đảo cho tới khi muối bám đều trên bề mặt của thịt vịt.

    Sau vài phút bạn cho sả chiên vào rồi tiếp tục đảo đều trong vài phút nữa là hoàn thành.

    Cách làm món vịt xào sả ớt

    Nguyên liệu: 1 con vịt đã mổ sẵn; 4 cây sả

    Gia vị gồm gừng, hành lá, hành tím, tỏi, ớt hiểm, đường, nước mắm, muối, bột ngọt, dầu ăn, dầu hào.

    Cách làm:

    Vịt mua về rửa sơ qua. Sau đó, đập dập một ít gừng, chà xát lên mình vịt để khử mùi hôi rồi rửa kỹ lại với nước. Có thể dùng rượu trắng, giấm hay chanh để khử mùi gắt của vịt.

    Chặt vịt thành miếng vừa ăn.

    Sả lột vỏ già, cắt bỏ phần ngọn, đập dập rồi băm nhuyễn, chia làm 2 phần.

    Hành lá rửa sạch, xắt khúc 2-3cm.

    Tỏi, hành tím làm sạch, giã nhuyễn với 3 trái ớt hiểm. Tùy vào khả năng ăn cay của gia đình mà điều chỉnh lượng ớt phù hợp.

    Cho thịt vịt vào tô, thêm tỏi, hành tím đã giã nhuyễn, 1/2 muỗng cà phê bột ngọt, 1 muỗng canh nước mắm, 1 muỗng canh dầu hào, 1 muỗng cà phê đường và một phần sả băm. Trộn đều thịt vịt với gia vị rồi ướp trong vòng 10-15 phút.

    Bắc chảo lên bếp, thêm 1 muỗng canh dầu ăn, vặn lửa lớn. Dầu nóng già thì thêm hành, tỏi đã băm nhỏ vào phi. Khi thấy dậy mùi thơm, thêm phần sả còn lại, đảo đều khoảng 2-3 phút.

    Tiếp đến, trút thịt vịt đã ướp vào. Điều chỉnh lửa lớn rồi đảo nhanh tay trong vòng 4-5 phút để thịt không bị ra nước, các miếng thịt vịt săn lại.

    Vặn lửa liu riu, nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn rồi nấu thêm 3 phút nữa là món ăn đã chín, thơm phức. Cuối cùng, thêm hành lá vào đảo đều là món ăn hoàn thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Lựa Chọn Và Chế Biến Món Ngon Từ Thịt Vịt
  • 3 Món Ăn Ngon Được Chế Biến Từ Thịt Cừu Cho Người Bệnh Thận
  • Cách Chế Biến Thịt Cừu Và Bò Viên Sốt Cà Chua, Ớt Đơn Giản
  • 9 Cách Chế Biến Thịt Cừu Nhất Định Bạn Phải Thử 1 Lần
  • Bán Thịt Cừu Tphcm Ở Đâu Cho Các Nhà Hàng, Quán Ăn
  • Học Ba Cách Chế Biến Món Ngon Từ Cá Bò Gù❤️

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Phút Để Nấu Cháo Cá Basa Nấm Rơm Cực Ngon Dành Cho Bé Ăn Dặm
  • Cách Làm Chả Cá Biển Đơn Giản Mà Cực Ngon, Ai Cũng Muốn Thử
  • Cách Kho Cá Đông Lạnh Ngon, Thơm, Mà Lại Dễ Thực Hiện
  • Cách Làm Cá Chép Hấp Bia Ngon “đánh Thức” Vị Giác Cho Cả Nhà
  • Cách Nấu Cháo Cá Chép Thơm Ngon Không Tanh Cho Bà Bầu
  • Cá bò gù hay còn gọi là cá ngừ đại dương là một loài cá không chỉ cho thịt thơm ngon mà còn có giá trị kinh tế cao. Không giống các loại cá khác, cá bò gù thường được tận dụng tất cả các bộ phận trên cơ thể để chế biến thành các món ăn như lòng cá làm gỏi, thịt phi lê cá làm sushi, chiên sốt cà… Ngoài ra, sườn và lườn cá thường được sử dụng để chế biến thành các món ăn lạ miệng như lườn cá nướng chè xanh hay sườn cá nướng mật ong. Cá bò gù là loài cá hiếm và có giá trị dinh dưỡng cao. Các món ăn ngon được chế biến từ cá bò gù chứa nhiều đạm tốt cho sức khỏe.

    Để làm món lườn cá nướng chè xanh, trước tiên cá phải tươi ngon, vừa mới được đánh bắt lên. Sau khi lóc lấy phi lê thì phần lườn được dùng để chế biến món ăn này. Lườn cá rửa với nước muối pha loãng, sau đó rửa lại bằng nước sạch nhiều lần. Thái lườn cá thành từng phần vừa ăn, ướp sơ cá với ít gia vị cùng lá chè tươi xay nhuyễn. Ướp cá trong khoảng 30 phút rồi nướng chín trên bếp than hồng. Lườn cá nướng chè xanh chín vàng thoang thoảng hương thơm cùng vị đắng nhẹ của chè đem đến cảm giác rất lạ miệng.

    Ngoài phần lườn cá thì sườn cá bò gù chế biến bằng cách nướng mật ong tạo nên một món ăn với hương thơm hấp dẫn kích thích từng giác quan của bạn. Từng khúc sườn cá được rửa qua nước sạch, rửa lại với ít rượu trắng để loại bỏ mùi tanh trước khi chế biến.Trước khi cho vào đun nấu ta cần ướp sườn với các loại gia vị như hạt nêm, dầu ăn, tiêu, hành tỏi băm.. cùng mật ong và để thấm trong khoảng 30 phút rồi nướng chín. Sườn cá bò gù nướng có thể làm món lai rai hoặc cuốn bánh tráng với các loại rau đều rất thích hợp và ngon miệng.

    Ngoài hai phần kể trên, thì gân cá bò gù cũng được sử dụng để chế biến nên món gân cá chiên sả ớt rất hấp dẫn. Từng phần gân cá được thái nhỏ, ướp gia vị và ráng vàng với sả ớt tỏa mùi thơm nức. Không có cái mềm, ngọt của thịt, thay vào đó là cái giòn sần sật dai dai của gân rất thú vị khi ăn. Ở mỗi vùng miền đều có những món ngon khác nhau trở thành đặc sản của từng miền. Bạn đã từng nghe tới tiếng thơm của món cá kho làng Vũ Đại chưa? Đó là một món cá kho Hà Nam mà khi bạn đã ăn thì bạn không bao giờ có thể quên được và bạn sẽ còn muốn được ăn nhiều lần nữa. cá kho Làng Vũ Đại Hà Nam là món ăn không thể thiếu trong bữa cơm ngày tết của người dân Lý Nhân Hà Nam và ngày nay món cá đã trở thành món quà biếu sếp tuyệt vời dịp tết. Cá kho làng Vũ Đại tự hào là món cá kho ngon nhất Việt Nam (XEM THÊM).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Chỉ Cung Cấp Cá Cam, Cá Sapa, Cá Bò Da, Cá Bớp. Giá Bao Nhiêu Và Cách Chế Biến!
  • Cá Bống Mú Làm Món Gì Ngon
  • 【1/2021】Cách Chế Biến Nấu Cá Bống Mú Đỏ Hấp Xì Dầu Tại Nhà Đơn Giản【Xem 107,811】
  • Cá Bống Mú Biển Làm Món Gì Ngon? Mua Ở Đâu? Giá Bao Nhiêu Tiền
  • Cá Bống Mú Làm Gì Ngon? 3 Cách Chế Biến Cá Bống Mú Ngon Nhất
  • Cách Chế Biến Cá Bống Tượng Thành Những Món Cực Ngon

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Cá Bống Tượng Chưng Tương Đượm Vị Hao Cơm
  • Cách Chế Biến Cá Bống Tượng 01/2021
  • Cháo Cá Bống Ăn Dặm Cho Bé Nấu Với Rau Gì Ngon?
  • Cá Bạc Má Nấu Món Gì Ngon Nhất?
  • Cách Làm Cá Bạc Má Chiên Theo 2 Công Thức Siêu Ngon
  • Cá bống tượng là cá gì?

    Cách chế biến cá bống tượng cho hết nhớt

    Có nhiều cách để làm cá bống tượng hết nhớt, nhưng cách dân gian nhất là dùng lá tre xát nhẹ vào thân cá cho đến khi hết nhớt và vẩy. Tuy nhiên thời nay lá tre rất hiếm, bạn có thể dùng muối thay thế cũng được. Hiệu quả cũng rất tốt

    Cách chế biến cá bống tượng thành những món ăn ngon

    1. Cá bống tượng kho dứa

    Cá bống tượng có thịt thơm, chắc nên những món kho sẽ tạo nên hương vị đậm đà, rất hấp dẫn. Đặc biệt khi kết hợp với dứa (thơm) thì vị tanh của cá gần như sẽ không còn. Món cá bống tượng kho dứa có đầy đủ vị chua, cay, mặn, ngọt ăn với cơm cực kì hợp

    Nguyên liệu cần chuẩn bị

    – Cá bống rửa sạch, dùng dao khía vài đường lên 2 bên thân cá để cá thấm gia vị hơn

    Cách chế biến cá bống tượng kho dứa

    – Ướp cá cùng theo với 1 chút nước mắm, nửa muỗng đường, 1 chút hạt tiêu và chút dầu ăn. Dầu ăn sẽ giúp thịt cá mềm hơn. Xát đều cho những loại gia vị thấm sâu sau đó để chừng 15p để gia vị ngấm đều

    – Hành lá chẻ nhỏ, thái khúc dài; dứa thái lát tầm 1cm; ớt đập dập chừng 2-3 quả. Ớt sẽ làm tăng mùi vị của món ăn nhưng lưu ý không nên cho nhiều vì có thể làm ảnh hưởng đến vị ngọt của thịt cá

    – Khi cho cá vào nồi thì cho cùng luôn cả ớt, thêm một chút nước khoảng bằng bề mặt cá rồi để lửa nhỏ trong khoảng 10 phút. Tiếp theo, cho dứa vào nồi và tiếp tục nấu cho tới khi phần nước còn lại cạn cần. Trong lúc kho cá thỉnh thoảng dùng thì dưới đều nước cá trong nồi nên thân cá để phần trên không bị khô và món cá kho ngấm gia vị hơn

    – Khi nước trong nồi cạn dần và đặc lại thì cũng là lúc cá chín hẳn. Bạn bày cá ra đĩa, rải hành lá đã chẻ nhỏ lên trên rồi đổ phần nước sốt trong nồi lên trên.

    Vậy là chỉ với khoảng 30 – 40 phút, bạn đã có món cá bống tượng thơm ngon hấp dẫn với vị chua chua, ngọt ngọt, mặn mặn. Món ăn này ăn kèm với cơm nóng là tuyệt vời

    2. Cá bống tượng hấp nấm

    Cá bống tượng hấp nấm ngoài có thể dùng ăn cơm thì đây cũng là món ăn được dân nhậu rất yêu thích. Vị ngọt, dai tự nhiên của cá hòa cùng vị thơm của nấm làm bất cứ ai cũng phải chảy nước miếng

    • Tương tự như cách chế biến cá bống tượng kho dứa, sau khi làm sạch và sơ chế, cá sẽ được khía vài đường ở 2 bên thân giúp gia vị ngấm đều hơn.
    • Tiếp theo, ướp cá với dầu hào, dầu ăn và hạt tiêu để thịt cá mềm và đậm đà hơn. Để gia vị khoảng 20 phút để có thể thấm đều vào cá
    • Sơ chế nấm: Rửa sạch, cắt chân và thái đôi cho vừa ăn. Cắt nhỏ ớt tươi thành từng lát chéo mỏng
    • Sau khi để khoảng 20 phút thì xếp cá vào khay hoặc đĩa, rải ớt và nấm ra xung quanh và trên thân cá rồi hấp cách thủy trong khoảng 20 phút
    • Thịt cá khi hấp chín sẽ có màu trắng. Vừa mở vung ra là hương thơm của cá và nấm xộc ngay vào mũi. Để có món cá hấp nấm tròn vị, bạn nên pha thêm chút nước mắm tỏi ớt để chấm cá. Thêm cốc bia hoặc chén rượu là chuẩn luôn

    Nguyên liệu:

    3. Cá bống tượng kho tiêu

    Cách chế biến cá bống tượng hấp nấm

    Đây là cách chế biến cá bống tượng vô cùng phổ biến và đơn giản. Đơn giản như thế nhưng món này lại cực kì ngon không hề thua kém bất cứ món nào được chế biến từ cá bống tượng

    Món cá bống kho tiêu có vị cay nồng của tiêu kết hợp với vịt ngọt, dai của thịt cá rất thích hợp để thưởng thức trong những ngày trời hơi se lạnh

    4. Cá bống tượng nấu canh rau răm

    Nguyên liệu chuẩn bị: Cách nấu cá bống tượng kho tiêu

    Nếu đã thưởng thức các món cá bống tượng kho, hấp rồi và muốn đổi khẩu vị thì mời mọi người đến với món cá bống tượng nấu canh rau răm cực độc đáo.

    Món cá bống tượng nấu canh rau răm không chỉ có hương vị thơm ngon, đặc biệt mà còn là vị thuốc dân gian tốt cho sức khỏe. Món cá bống tượng nấu canh rau răm giúp làm tăng sức đề kháng, chống cảm, nhất là trong những ngày thời tiết chuyển mùa, cơ thể cảm thấy mệt mỏi

    Món canh cá bống tượng nấu rau răm ăn khá lạ miệng. Có vị ngọt của cá, cay cay, the the của rau răm cùng với vị nồng nồng của hạt tiêu. Chỉ cần thử một thìa canh thôi, bạn sẽ phải bất ngờ vì những gì mà những nguyên liệu dân giã này có thể mang lại

    5. Cháo cá bống tượng

    Nguyên liệu chuẩn bị

    Cháo cá bống tượng cũng là cách chế biến cá bống tượng được rất nhiều người yêu thích. Cảm giác được xì xụp húp tô cháo nóng không những ngon miệng mà còn rất thú vị

    Cách nấu canh cá bống tượng rau răm

    Món cháo cá nóng hổi, thơm ngon, bổ dưỡng. Cá bống tượng rất ít xương nên ăn cháo rất dễ dàng.

    Nguyên liệu Cách nấu cháo cá bống tượng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Bơn Nướng Kiểu Hàn Quốc
  • Cá Thờn Bơn Có Đặc Điểm Gì? Nên Chế Biến Món Nào Thì Ngon?
  • Cung Cấp Cá Bơn Hàn Quốc, Giá Rẻ Và Cách Chế Biến
  • 【1/2021】Cách Chế Biến Nấu Cá Bống Mú Làm Món Gì Ngon Nhất Hiện Nay【Xem 207,108】
  • Hướng Dẫn Cách Làm Cá Bống Kho Tiêu Ăn Là Nghiền
  • Tin tức online tv