【#1】Cách Chế Biến Rau Câu Khô Thành Nhiều Món Ngon Hấp Dẫn

Thạch dừa dẻo thỉnh thoảng ăn lẫn miếng cùi dừa ăn giòn giòn rất ngon mà không lo đau bụng vì chế biến thiếu vệ sinh như các gói chế biến sẵn được bày bán tràn lan hiện nay.

Nguyên liệu:

– 2 thìa nhỏ bột rau câu dẻo

– 500ml nước dừa tươi nguyên chất

– 30g đường cát trắng

– Cùi dừa bào sợi, bào vụn hoặc thái nhỏ.

– Dừa tươi mua về đập quả lấy nước, đong lấy 500ml nước dừa tươi nguyên chất, vì nước dừa đã có vị ngọt sẵn nên không cần thêm nhiều đường.

– Cùi dừa già thái nhỏ, hoặc có thể thái sợi.

– Đổ nước dừa tươi, đường, bột rau câu vào nồi, dùng muôi khuấy đều để hỗn hợp rau câu tan, để khoảng 15 phút.

– Bắc nồi lên bếp, đun sôi, vừa đun vừa khuấy đến khi bột rau câu và đường tan hoàn toàn.

– Xếp cùi dừa vào khuôn, đổ hỗn hợp rau câu lên bề mặt.

– Đợi nguội cho vào ngăn mát ở tủ lạnh, để khoảng một tiếng là có thể lấy ra thưởng thức.

– 2 trái dừa tươi (loại nhỏ thôi)

– Rau câu bột (sẽ tùy thuộc vào lượng nước dừa có trong trái dừa mà cân rau câu, nên cứ mua một gói rau câu 100g)

– Nếu nước dừa ngọt thì không có đường, nếu nếm thấy nước dừa nhạt quá thì chuẩn bị 100g đường trắng.

– 200ml nước cốt dừa thật đặc.

Cách làm:

– Chặt trên trái dừa một miếng (như là chặt để uống nhưng đừng lớn quá – giữ lại nắp). Trút hết nước dừa ra và nếm xem có ngọt không.

– Đong xem được bao nhiêu nước dừa. Sau khi đong nước dừa sẽ bắt đầu cân rau câu.

– Và sẽ cân rau câu với lượng nước dừa theo tỉ lệ sau: 1 lít nước dừa + 5 g bột rau câu (nếu nước dừa quá nhạt và muốn có vị ngọt nhẹ thì thêm 20g đường).

-Hòa tan rau câu trong nước dừa, đặt lên bếp quấy nhỏ lửa cho đến khi rau câu thật tan hết, kiểm tra bằng cách múc rau câu vào vá rồi trút hết rau câu vào nồi sau đó nếu thấy trong vá không còn hạt rau câu bám vào vá là được. Nếu nhạt thì cho một chút đường (rất ít đường).

-Khi đường tan, cho rau câu vào lòng trái dừa, khoảng 2/3 trái, để rau câu hơi đông, nghiêng trái dừa thấy rau câu không tràn lên thành trái dừa nhưng mặt trên rau câu đã bắt đầu đặc.

– Phần rau câu còn lại trong nồi nấu sôi, cho thêm khoảng 1 thìa cà phê rau câu bột (đã hòa tan với 1 thìa cà phê nước lạnh), khi rau câu đã tan hết, cho nước cốt dừa quấy đều. Khi lớp rau câu bên dưới đã se mặt, trút hỗn hợp rau câu nước cốt dừa này lên trên và để nguội cho vào tủ lạnh.

– Nếu hai lớp rau câu không dính nhau là do cả hai lớp đều nguội. Nếu lớp dưới thật nguội thì lớp trên phải thật nóng, độ nóng sẽ làm kết dính 2 lớp với nhau.

-Nếu làm khéo khi ăn rau câu sẽ dính hai lớp và chỉ hơi ngọt nhẹ của nước dừa, rất mềm, dùng thìa múc. Bên Malaysia còn có thể dùng ống hút lớn để hút khi dùng món rau câu trái dừa này.

Cả nhà mình ai cũng thích món thạch rau câu, đặc biệt là loại có nhiều tầng màu sắc hấp dẫn. Xin chỉ giúp cách làm rau câu để vừa đẹp lại không bị mềm.

* 25 g rau câu bột

* 1.5 lít nước

* 500g đường trắng

* ½ hộp sữa đặc

* 100ml nước cốt dừa

* Nước cốt lá dứa

* 2 thìa nước cà phê thật đậm

* Khuôn đổ rau câu ( tùy ý chọn )

Muốn làm được khuôn rau câu sơn thủy phải có từ 4 màu trở lên. Trong công thức này, chúng ta chọn 4 màu: trắng (nước cốt dừa), xanh (lá dứa), nâu (cà phê) và trắng trong (rau câu nguyên chất).

– Cho rau câu vào nồi, đổ nước vào, khuấy tan, để khoảng 10 phút cho bột rau câu nở hết. Đặt lên bếp, khuấy trên lửa nhỏ đến khi sôi, cho đường vào, nấu sôi trở lại.

– Chia rau câu làm 4 phần đều nhau, phần trong giữ lại trong nồi, 3 phần kia chia vào 3 cái nồi nhỏ, đặt lên bếp để lửa thật nhỏ, không cần sôi, mục đích chỉ giữ cho rau câu nóng, không đặc lại.

* Cho màu xanh lá dứa vào nồi thứ nhất

* Cho cà phê đậm vào nồi thứ nhì

* Cho sữa + nước cốt dừa vào nồi thứ ba

* Nồi còn lại giữ nguyên màu trong của rau câu

* Khi đã hòa tan các màu ở trong nồi, nhấc xuống để hơi ấm (khoảng 50 độ C là được)

* Múc một muỗng rau câu trong cho vào khuôn. Khi thấy lớp rau câu phía trên hơi se mặt (nhưng không đặc) thì bắt đầu đổ lớp vân thủy.

* Lớp vân thủy : Múc một muỗng rau câu màu xanh đổ lên lớp trong, tiếp theo là múc một muỗng màu trắng đục đổ lên, rồi đến một lớp nâu cà phê . Các lớp rau câu này sẽ hơi loang vào nhau.

* Lại đổ một lớp trong lên lớp vân thủy… Đổ tuần tự như thế cho đến hết.

* Nếu rau câu đặc nhanh thì phải làm ấm trở lại, vì khi nguội, rau câu sẽ không quyện vào nhau mà tách thành từng mảng màu khác biệt.

* Nếu đổ khéo, khi cắt ra, miếng rau câu trông rất đẹp.

* Để vào tủ lạnh, có thể dùng được 1 tuần.

Các màu để dùng đều có thể tự làm.

* Màu đỏ: củ dền, trái gấc

* Màu cam: cà rốt

* Màu vàng : trái thơm

* Màu xanh lá cây : lá dứa

Rau câu dừa là món ăn khoái khẩu của nhiều người, hấp dẫn cả trẻ con và người lớn. Vào những ngày hè nóng nực mà được thưởng thức rau câu dừa thì ngọt mát không gì bằng. Rau câu dừa mèm, thơm và tan ngay trong miệng. Vị ngọt thanh của nước dừa tươi, thêm chút béo ngậy của lớp nước cốt dừa trên mặt sẽ làm bạn ăn một lần rồi nhớ mãi.

Đặc biệt rau câu dừa được nấu từ Bột rau câu dẻo Konnyaku Jelly Powder – Singapore do Công ty Thu Hiên nhập khẩu càng ngon hơn vì độ dẻo cao hơn, 1 gói 10gr có thể nấu được 6 lít nước dừa tươi.

1. Trộn đều 1 gói Jelly với 250gr đường.

2. Đun sôi 950ml nước, sau đó đổ từ từ hỗn hợp đường và bột vào nướic đang sôi đang sôi và khuấy đều cho hỗn hợp tan hoàn toàn ( khoảng 8 phút). Cho màu hoặc hương liệu tuỳ thích vào.

3. Cho một ít trái cây tươi đã cắt vào trong khuôn rồi đổ hỗn hợp đã nấu vào khuôn.

4. Để khuôn vào tủ lạnh 1 giờ đồng hồ và ăn lạnh.

1. Trộn đều 1 gói Jelly với 400gr đường.

2. Đun sôi 4,5 đến 6 lít nước dừa tươi. Cho từ từ hỗn hợp bột và đường vào nước dừa đang sôi, vặn nhỏ lửa, khuấy đều cho đến khi hỗn hợp tan hoàn toàn.

3. Đổ ngược vào trái dừa. Sẽ ngon hơn nếu bạn đổ thêm 1 lớp nước cốt dừa pha với 1 ít bột Jelly lên bề mặt.

Tìm bịch rau câu dẻo giống như trên ^^

Loại rau câu này ăn rất ngon lại cho màu sắc trong suốt rất đẹp. Có nhiều loại, nhưng mình chỉ mới nấu hiệu Thảo Vân thôi, được sản xuất tại VN. Giá cũng không đắt hơn loại thường là mấy, chỉ 7g/gói dùng nấu cho 1 lít nước. Còn loại của Nhật thì đắt hơn, 10k/gói. Bao bì rau câu dẻo có chữ Jelly như bạn thấy ở trên.

Nấu loại này bạn nên cho từ từ vào nồi nước khuấy cho tan đều. Sau khi cho đường vào nấu tan, đến giai đoạn đổ vào khuôn cũng đừng bắc xuống khỏi bếp. Nên để lửa gaz nhỏ nhất nếu không bạn chưa kịp đổ xong nó đã đông rồi đấy.

Pha màu bằng xiro sẽ cho màu sắc đẹp & mùi hương đặc trưng của từng loại. Nên ăn ngay sẽ ngon hơn.

Ngoài ra, loại rau câu dẻo này dùng nấu Rau câu trái dừa rất ngon. Cách nấu rau câu trái dừa rất đơn giản.

Nguyên liệu:

– 10 trái dừa xiêm

– 1 gói rau câu dẻo

– Đường

Cách nấu:

– Vạc miệng trái dừa cho tất cả nước vào nồi ( nhớ giữ lại cái nắp để sau này còn đậy nha ^^ )

– Dùng ray lọc lại nước dừa cho sạch.

– Cho 1/3 gói rau câu (hoặc 1/2 gói nếu bạn thích ăn cứng hơn một chút) + 4 vá nhỏ đường (khoảng gần 1 chén) vào khuấy tan.

– Bắc lên bếp đun sôi. Nếm thử xem đã vừa miệng hay chưa (bạn có thể gia giảm lượng đường theo ý thích). Khi hỗn hợp đã sôi vặn bớt lửa cho sôi tiếp một lát nữa để nước dừa sắc lại một chút sẽ ngon hơn.

– Nhấc nồi xuống để nguội một lát hãy rót vào trái dừa.

– Đậy nắp lại. Đợi hỗn hợp đông lại rồi cho vào tủ lạnh. Cuối cùng thì mời cả nhà mum mum thành quả của cô con gái đảm đang đi nào

* Nói ngoài lề một tí nha. Lượng nước dừa khi nấu với rau câu sẽ nhiều hơn lúc đầu nên không sợ khi rót trở lại vào trái dừa sẽ thiếu đâu. Hơn nữa các bạn chú ý, không cho quá nhiều đường sẽ làm mất đi vị ngọt tự nhiên của nước dừa.

Tự nấu không mất nhiều thời gian lại rẻ và ngon hơn bạn đi mua nhiều. Lúc ấy cả nhà sẽ xuýt xoa khen con gái đảm đang cho mà xem.

– 2 trái dừa tươi (loại nhỏ thôi)

– Rau câu bột (sẽ tùy thuộc vào lượng nước dừa có trong trái dừa mà cân rau câu, nên cứ mua một gói rau câu 100g)

– Nếu nước dừa ngọt thì không có đường, nếu nếm thấy nước dừa nhạt quá thì chuẩn bị 100g đường trắng.

– 200ml nước cốt dừa thật đặc.

Cách làm:

– Chặt trên trái dừa một miếng (như là chặt để uống nhưng đừng lớn quá – giữ lại nắp). Trút hết nước dừa ra và nếm xem có ngọt không.

– Đong xem được bao nhiêu nước dừa. Sau khi đong nước dừa sẽ bắt đầu cân rau câu.

– Và sẽ cân rau câu với lượng nước dừa theo tỉ lệ sau: 1 lít nước dừa + 5 g bột rau câu (nếu nước dừa quá nhạt và muốn có vị ngọt nhẹ thì thêm 20g đường).

-Hòa tan rau câu trong nước dừa, đặt lên bếp quấy nhỏ lửa cho đến khi rau câu thật tan hết, kiểm tra bằng cách múc rau câu vào vá rồi trút hết rau câu vào nồi sau đó nếu thấy trong vá không còn hạt rau câu bám vào vá là được. Nếu nhạt thì cho một chút đường (rất ít đường).

-Khi đường tan, cho rau câu vào lòng trái dừa, khoảng 2/3 trái, để rau câu hơi đông, nghiêng trái dừa thấy rau câu không tràn lên thành trái dừa nhưng mặt trên rau câu đã bắt đầu đặc.

– Phần rau câu còn lại trong nồi nấu sôi, cho thêm khoảng 1 thìa cà phê rau câu bột (đã hòa tan với 1 thìa cà phê nước lạnh), khi rau câu đã tan hết, cho nước cốt dừa quấy đều. Khi lớp rau câu bên dưới đã se mặt, trút hỗn hợp rau câu nước cốt dừa này lên trên và để nguội cho vào tủ lạnh.

– Nếu hai lớp rau câu không dính nhau là do cả hai lớp đều nguội. Nếu lớp dưới thật nguội thì lớp trên phải thật nóng, độ nóng sẽ làm kết dính 2 lớp với nhau.

-Nếu làm khéo khi ăn rau câu sẽ dính hai lớp và chỉ hơi ngọt nhẹ của nước dừa, rất mềm, dùng thìa múc. Bên Malaysia còn có thể dùng ống hút lớn để hút khi dùng món rau câu trái dừa này.

– 50 g rau câu khô (loại rong biển khô), ngâm nước lạnh (5 giờ) cho nở. Nên thay nước nhiều lần cho bớt mùi tanh của rau câu, cắt ngắn vừa ăn.

– 2 quả dưa chuột, bỏ ruột, bào mỏng.

– 50 g cà rốt bào sợi.

– 300 g thịt đùi, luộc thái sợi.

– 200 g tôm sú, hấp, bóc vỏ (chừa đuôi).

– Rau thơm, rửa sạch, cắt nhỏ.

– Rau mùi, chanh, đường.

– Nước mắm chua ngọt.

Xóc dưa chuột, cà rốt với đường, để 15 phút, bóp ráo nước.

Trộn rau câu, dưa chuột, cà rốt, thịt, tôm, rau thơm với nước mắm chua ngọt, ớt băm.

Chú ý: Món gỏi này không dùng hành phi hay lạc.

Cho ra đĩa. Trang trí vài cọng rau mùi. Dùng với nước mắm tỏi ớt và bánh phồng tô

【#2】Cách Chế Biến Măng Tây Thành Các Món Ngon Cho Bà Bầu, Bé Ăn Dặm

1. Ăn măng tây có công dụng gì?

1.1. Măng tây và công dụng chữa bệnh ung thư

Các món ăn chế biến từ măng tây rất đa dạng, lại đem đến nhiều lợi ích tốt cho sức khỏe, miễn là tiêu thụ đúng cách. Một trong những công dụng của măng tây là có chứa chất ngăn ngừa ung thư, chống viêm, hạ huyết áp hiệu quả, bao gồm flavonoid quercetin, isorhamnetin và kaempferol.

Hơn nữa, măng tây còn rất tốt để nấu món ngon cho bà bầu an thai. Theo nghiên cứu, 1/2 chén măng tây cung cấp 34% nhu cầu folate hàng ngày cho cơ thể người lớn bình thường, tỷ lệ này ở phụ nữ mang thai là 22%. Nếu ăn măng tây tím, bạn còn nhận thêm nhiều sắc tố tốt cho sức khỏe nữa. Chẳng hạn như chất anthocyanin – thành phần giúp rau quả có màu sắc rực rỡ, đồng thời, tăng cường chống oxy hóa tuyệt vời.

1.2. Măng tây chế biến đúng cách giúp giảm cân hiệu quả

Măng tây chứa hàm lượng calo thấp dù sở hữu rất nhiều chất dinh dưỡng “vạn người mơ”. Trên thực tế, với 90 gram măng tây chỉ có 20 calories. Bên cạnh đó, nguồn thực phẩm tươi xanh này còn chứa các dưỡng chất như chất xơ, chất béo lành mạnh, protein, vitamin A, C, K, E, Folate, Kali,…Đây đều là những nguồn chống oxy hóa rất tốt. Mặc dù chưa có nghiên cứu khẳng định, nhưng nhiều chuyên gia vẫn khuyến cáo ăn măng tây có thể hỗ trợ giảm cân hiệu quả nhờ một số chất quan trọng.

2. Cách chế biến món ăn từ măng tây tươi xanh ngon nhất

2.1. Cách nấu măng tây xào tỏi thịt bò

2.1.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • 200 gram thịt bò nạc
  • 300 gram măng tây
  • Gia vị: 10 gram dầu hào, 5 gram nước tương đậu nành, 5 gram tiêu đen xay, bột ngọt, muối, hạt nêm, đường
  • 10 gram tỏi tươi bóc vỏ và băm nhỏ
  • 10 gram hành tím băm nhỏ

2.1.2. Cách sơ chế măng tây luộc giữ màu xanh tươi giảm cân Eat Clean

  • Cắt gốc măng tây, rửa sạch, để ráo nước.
  • Sau đó, cắt măng tây thành khúc dài khoảng 5 – 6 cm, tùy theo độ dài bạn muốn.
  • Bắc nồi nước sôi, cho nửa thìa cà phê muối vào nồi cùng với măng tây.
  • Trụng sơ đến khi nước sôi lại lần nữa và măng tây chín xanh thì vớt ra, cho vào một thau nước lạnh để giữ độ săn của măng tây.
  • Vớt măng tây ra rổ, để ráo nước.
  • Măng tây ráo nước thì xếp lên dĩa cho đẹp mắt.

2.1.3. Cách chế biến món bò xào măng tây tỏi

    Thịt bò rửa sạch với muối, rồi xả nước lạnh 2 – 3 lần. Để ráo thịt bò, thái thành lát mỏng vừa phải. Ướp thịt bò với 2/3 tỏi và hành tím băm, nước tương, tiêu xay, dầu hào, 1 thìa cà phê bột ngọt, ít hạt nêm, trộn đều, để yên trong 15 phút.
  • Đặt 1 chảo chống dính lên bếp, đun nóng. Sau đó, cho khoảng nửa muỗng canh dầu ăn vào chảo đun nóng.
  • Cho phần tỏi, hành tím còn lại vào chảo, phi thơm cháy cạnh thì thêm thịt bò vào chảo, đảo đều trên lửa lớn. Bạn có thể nêm nếm gia vị cho món thịt bò xào vừa miệng hơn.

2.2. Cách chế biến măng tây xào ốc móng tay

2.2.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • Nửa kí măng tây (rửa sạch, cắt khúc, bỏ gốc già và luộc sơ, vớt ra đổ để ráo)
  • 400 – 500 gram ốc móng tay (ngâm nước ớt 2 tiếng)
  • 4 – 5 tép tỏi đập dập, băm nhỏ
  • 3 củ hành tím bóc vỏ, thái lát
  • Gia vị: hạt nêm, muối, tiêu xay

2.2.2. Cách làm món ốc móng tay xào tỏi măng tây

    Để làm ốc móng tay xào tỏi măng tây ngon, bạn cần sơ chế ốc thật kĩ. Sau khi ngâm nước với ớt tươi, bạn vớt ốc ra, rửa lại với nước sạch nhiều lần để bớt nhớt. Kế đến, bạn cũng bắc nồi nước đun sôi, cho ốc móng tay vào trụng sơ 30 giây. Vớt ốc ra nhanh, để ráo nước. Khi này, dùng mũi dao cắt bỏ phần ruột giữa con ốc, rửa sạch đất cát bên trong, rồi để ráo nước. Khi này, bạn có thể giữ lại vỏ ốc, hoặc bỏ luôn chỉ lấy thịt ốc cũng được.
  • Bắc chảo lên bếp đun nóng cùng 1 muỗng canh dầu ăn. Thêm tỏi và hành tây vào chảo, phi đến khi dậy mùi thơm thì cho ốc móng tay đã ráo nước vào xào lửa lớn.
  • Ốc hơi tái chín thì bạn cho măng tây vào xào cùng. Đảo đều các nguyên liệu khoảng 2 – 3 phút cho chín đều.
  • Nêm 1 thìa cà phê bột nêm, 1/2 thìa cà phê muối I-ốt vào chảo, xào đều lên. Măng tây chín sẽ chuyển sang màu xanh đục hơn, bạn rắc tiêu xay lên trên và tắt bếp.
    Dọn món xào lên dĩa, thêm ít ngò trang trí và thưởng thức.

2.3. Cách chế biến cá hồi áp chảo măng tây sốt tỏi chanh

2.3.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • 4 miếng cá hồi phi lê nhỏ, kích cỡ khoảng 5 cm (đã rửa sạch và dùng khăn giấy thấm khô)
  • Ít muối, tiêu xay
  • Nguyên liệu nấu sốt tỏi chanh: nước cốt 3 quả chanh tươi bỏ hột; 1,5 thìa cà phê bơ thực vật; 2 thìa cà phê tỏi băm; 50 ml nước dùng gà; 1 thìa cà phê đường trắng
  • 1 miếng nhỏ bơ thực vật
  • 1 thìa cà phê tỏi băm
  • 50 gram măng tây đã rửa sạch, cắt khúc 6 cm
  • Ít ngò rí xắt nhỏ

2.3.2. Cách chế biến món cá hồi áp chảo măng tây sốt tỏi chanh

  • Bạn rắc ít muối, tiêu lên 2 mặt các miếng thịt cá hồi phi lê. Ướp cá khoảng 10 – 15 phút cho thấm vị.
  • Bạn bắc chảo lên bếp, đun nóng lòng chảo và cho miếng bơ thực vật nhỏ vào, nấu cho tan chảy. Sau đó, cho tỏi băm vào chảo để phi thơm với bơ. Kế đến, cho măng tây đã thái khúc vào xào lửa vừa. Xào măng đến khi chín xanh và có màu đục hơn thì nêm ít muối tiêu, đảo thêm 1 – 2 phút nữa thì tắt bếp. Vớt măng tây ra dĩa, xếp gọn gàng cho đẹp mắt.
    Bắc chảo nhỏ khác, đun nóng với nửa thìa cà phê bơ và 2 thìa tỏi băm. Tỏi dậy mùi thơm và ngả màu vàng thì cho nước chanh và nước dùng gà vào, đun sôi. Nêm đường, cho thêm miếng bơ còn lại vào, đun cho nước sốt hòa quyện và hơi sệt lại. Điều chỉnh gia vị nêm nước sốt tỏi chanh vừa miệng thì tắt bếp. Rót nước xốt vào chén nhỏ.
    Tiếp tục đun nóng một chảo sạch khác với nửa muỗng canh dầu ăn. Dầu nóng, gắp từng miếng cá hồi vào áp chảo 2 mặt đến khi chín đều thì gắp ra dĩa măng tây.
    Rưới sốt bơ tỏi chanh lên dĩa cá hồi áp chảo chế biến với măng tây xào, trang trí ngò rí nữa cho đẹp mắt và thưởng thức.

2.4. Cách nấu măng tây thịt xông khói

2.4.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • Thịt ba rọi xông khói (mua sẵn trong các siêu thị) thái thát nhỏ: 100 gram
  • Măng tây: 1 bó nhỏ khoảng 50 gram (rửa sạch, cắt khúc và trụng sơ nước sôi 1 phút)
  • 3 tép tỏi băm nhỏ
  • Gia vị: bột nêm, tiêu xay

2.4.2. Cách chế biến măng tây nấu với thịt ba rọi hun khói

  • Bạn chế khoảng nửa muỗng canh dầu thực vật vào chảo vừa, bắc lên bếp, đun lửa lớn làm nóng. Kế đến, cho tỏi băm vào chảo để phi thơm vàng.
  • Thêm thịt xông khói vào chảo, đảo đều. Khoảng 30 giây sau thì cho măng tây đã luộc sơ vào xào cùng.
  • Măng tây chuyển màu đục gần chín thì bạn nêm nếm cho món xào vừa miệng.
  • Xào thêm 1 – 2 phút cho măng tây chín hoàn toàn thì tắt bếp.
  • Dọn món ăn lên dĩa, rắc tiêu xay và thưởng thức ngay cho nóng.

2.5. Cách nấu măng tây xào tôm tươi ngon

2.5.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • Tôm tươi (đã rửa giấm/ rượu, xả nước sạch, bóc vỏ): 3 lạng
  • Măng tây tươi ngon rửa sạch, cắt khúc, bỏ phần già: nửa kí
  • 2 tép tỏi tươi bóc vỏ, băm nhỏ
  • Gia vị ướp tôm: nửa muỗng canh bột nêm, 1 thìa cà phê tiêu xay, nửa thìa cà phê đường trắng
  • Gia vị món xào: 2 thìa cà phê nước mắm loại ngon, ít đường, bột nêm

2.5.2. Cách chế biến măng tây xào tôm tươi ngon

    Cắt tôm hạt lựu hoặc để nguyên con đều được. Trộn tôm với với gia vị ướp trong chén sạch, để yên 10 phút.
  • Trong lúc đó, bạn bắc nồi nước sôi cùng nửa thìa cà phê muối. Cho măng tây vào luộc sơ 1 phút rồi vớt ra, ngâm nước lạnh cho xanh và không bị mềm nhũn, vớt để ráo.
  • Bắc chảo vừa lên bếp, đun nóng lòng chảo với nửa muỗng canh dầu ăn. Thêm tỏi băm nhuyễn vào phi thơm.
  • Cho phần tôm đã ướp gia vị vào chảo, xào đều lửa lớn khoảng 45 giây cho chín hơi đỏ thì thêm măng tây luộc vào, đảo đều. Xào đến khi măng tây chín hoàn toàn thì nêm gia vị. Nấu thêm 30 giây nữa thì tắt bếp, dọn món ăn ra dĩa và thưởng thức.

2.6. Cách chế biến măng tây thịt ức gà xào

2.6.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • 200 gram thịt ức gà đã tách da, rửa sạch và để ráo nước
  • 100 gram măng tây đã rửa sạch, bỏ gốc già, cắt khúc
  • Gia vị ướp gà: 1/2 thìa cà phê dầu hào, 1/4 thìa cà phê bột ngọt, 1/2 thìa cà phê tiêu xay
  • 1/2 thìa cà phê dầu hướng dương
  • 5 gram đầu hành cắt khúc
  • 1 nhánh hành lá cắt khúc
  • Rượu trắng, ít nước lọc

2.6.2. Cách chế biến món thịt ức gà xào măng tây

  • Trộn thịt ức gà với gia vị ướp, để yên 15 phút. Trong lúc đợi ướp thịt gà, bạn bắc nồi nước đun sôi, cho vào 1/2 thìa cà phê muối, trụng sơ măng tây trong 1 phút. Sau đó, vớt măng tây ra thau nước lạnh ngâm, rồi vớt ra rổ để ráo nước.
  • Bắc chảo lên bếp, đun nóng với dầu hướng dương. Thêm đầu hành vào chảo dầu, đảo đều. Đến khi hành chuyển màu trong hơn thì cho thịt ức gà vào, xào đều khoảng 2 phút cho chín mềm.
  • Nêm 1 thìa cà phê rượu, cùng 100 ml nước lọc vào chảo, nấu thêm 10 phút cho nước sốt đặc lại.
  • Cho măng tây luộc vào chảo thịt gà, đảo đều. Nêm thêm 1 thìa cà phê rượu trắng nữa vào chảo, hành lá cắt khúc xào hỗn hợp thêm 3 – 4 phút nữa cho chín mềm hết các thành phần thì tắt bếp.
  • Dọn món măng tây xào thịt ức gà ra dĩa, rắc tiêu xay lên và chấm kèm nước mắm pha ớt tươi là ngon nhất.

2.7. Cách trộn salad măng tây giảm cân

2.7.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • 50 gram măng tây (cắt gốc già, thái khúc, chần sơ với nước muối đun sôi, ngâm đá, vớt ra rổ đợi ráo nước)
  • 1 muỗng canh dầu oliu
  • 5 tép tỏi thái lát
  • 1 thìa cà phê bột nêm
  • 1 muỗng canh sốt mayonnaise
  • Ít bánh mì nướng vụn

2.7.2. Cách chế biến măng tây trộn salad sốt mayonnaise đơn giản

  • Bắc chảo vừa lên bếp đun nóng với dầu oliu. Sau đó, thêm tỏi thái lát vào phi vàng thơm.
  • Cho măng tây vào xào nhanh trên lửa lớn. Khoảng 2 – 3 phút sau, măng tây chuyển màu xanh tươi và đục hơn thì nêm bột nêm. Tiếp tục xào cho măng tây chín hẳn thì tắt bếp, dọn ra dĩa.

2.8. Cách chế biến măng tây xào nấm đùi gà chay

2.8.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • Măng tây (đã sơ chế, cắt khúc, luộc sơ): 270 gram
  • Nấm đùi gà (ngâm nước muối 10 phút, rửa lại với nước sạch và cắt gốc nấm, xé sợi nhỏ): 150 gram
  • Gia vị nêm các món ăn chay thông dụng

2.8.2. Cách làm món măng tây xào nấm đùi gà cho người ăn chay

  • Chế 1/2 muỗng canh dầu thực vật (có dầu oliu càng tốt) vào chảo, đun nóng. Thêm ít tỏi băm vào phi thơm.
  • Tỏi dậy mùi thơm, bạn cho măng tây đã luộc sơ vào xào trước. Khoảng 1 phút sau thì cho nấm đùi gà vào, nêm nếm gia vị cho món chay ngon vừa miệng.
  • Xào thêm 1 – 2 phút trên lửa vừa nữa, đến khi nấm và măng tây cùng chín mềm thì tắt bếp, dọn ra dĩa, rắc ít tiêu xay và thưởng thức.

3. Cách chế biến món ăn dặm ngon từ măng tây cho bé

3.1. Cách nấu cháo măng tây cà rốt cho trẻ ăn dặm

3.1.1. Chuẩn bị nguyên liệu

  • 50 ml nước dùng daishi rau củ (hoặc nước luộc rau củ cũng được)
  • 2 thìa cà phê đậu hũ non
  • 2 nhánh măng tây ngâm muối, rửa sạch, thái khúc nhỏ
  • 2 củ cà rốt bi
  • 2 thìa cà phê cháo trắng rây nhuyễn
  • 200 ml nước lọc đun sôi

3.1.2. Cách chế biến cháo măng tây cà rốt đậu hũ cho bé ăn dặm

  • Chế nước đun sôi vào nồi vừa, bật bếp lửa lớn. Cho cả măng tây và cà rốt vào luộc. Trong đó, măng tây chỉ luộc khoảng 8 phút thì vớt ra, cà rốt luộc đủ 15 phút thì vớt ra.
  • Cho chén daishi, chén đậu hũ và chén cháo vào lò vi sóng, quay 30 giây.
  • Măng tây luộc chín thì đem nghiền nhuyễn. Sau đó, rây hỗn hợp vừa nghiền để thu măng tây mịn, không còn bã. Với cà rốt cũng thực hiện tương tự.

3.2. Cách chế biến súp măng tây cho bé

3.2.1. Chuẩn bị nguyên liệu

Để nấu súp gà rau củ bổ dưỡng cùng với măng tây cho trẻ ăn, bạn chuẩn bị các nguyên liệu như sau:

  • 2 lạng nấm đông cô (ngâm nước muối, rửa sạch, thái lát mỏng)
  • 30 gram măng tây (sơ chế sạch, thái sợi dài 5 cm)
  • Rau củ ăn kèm: 1/4 trái bí đỏ, 25 gram hạt ngô, 1/2 củ cà rốt (rửa sạch, gọt vỏ và cắt hạt lựu nhỏ)
  • 100 gram thịt ức gà đã sơ chế sạch
  • Gia vị ướp gà: 1/2 thìa cà phê bột nêm; 2 thìa cà phê nước mắm ngon
  • 1 trứng gà tươi (đập ra sẵn ở chén riêng, đánh tan)
  • Nửa chén bột năng pha loãng với nước lọc

3.2.2. Luộc thịt gà và xé sợi nấu súp

  • Bắc nồi nước nấu sôi, cho miếng thịt gà vào luộc chín sơ.
  • Thịt gà chín đều thì vớt riêng ra, đợi nguội bớt thì đem xé nhỏ hoặc thái sợi nhỏ.
  • Sau đó, trộn thịt gà với gia vị ướp, để qua một bên.

Lưu ý: Nếu nấu súp gà cho bé ăn dặm thì bạn nên xé thịt gà thật nhỏ để các con dễ ăn hơn.

3.2.3. Cách chế biến súp gà nấu với măng tây cho trẻ

  • Rau củ chín mềm thì cho thịt gà xé vào nồi. Kế đến cho phần măng tây vào nồi luộc cùng các thành phần. Nước dùng súp sôi, măng tây chín thì gắp riêng măng tây ra. Nêm 1 muỗng canh bột nêm, 1/2 muỗng canh mì chính, 1/2 muỗng canh bột canh, ít nước mắm vào nồi súp gà xé, điều chỉnh gia vị vừa miệng.
  • Để lửa liu riu, cho trứng cùng hỗn hợp bột năng pha loãng vào nồi, khuấy đều. Bước này giúp tạo độ sánh nấu súp gà cho trẻ đặc và ngon hơn. Nước súp sôi lại thì tắt bếp, múc ra chén. Xếp măng tây lên trên và rắc ít tiêu xay, mùi tàu xắt nhỏ để thưởng thức súp ngon nhất.

Bích Tuyền

【#3】Cách Chế Biến Món Gà Hầm Măng Khô Dân Giã

by Minh Nguyệt on October 14, 2021

Gà hầm măng khô tượng trưng cho sự đoàn tụ, sum vầy, Chính vì thế khi ăn món này cùng với những người thân yêu trong gia đình cảm giác như ngon hơn biết bao nhiêu.

1. Nguyên liệu chuẩn bị cho món gà hầm măng khô

– Thịt gà: 1 con

– Măng khô: 200gr

– Rau mùi: 1 nắm

– Gia vị: Muối, tiêu, nước mắm, hạt nêm, dầu ăn,…

2. Cách chế biến món gà hầm măng khô

– Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

Sơ chế thịt gà

Thịt gà rửa với nước muối loãng sau đó rửa lại với nước sạch. Rửa xong, để ráo nước rồi chặt thành từng miếng vừa ăn. Bạn ướp gà với 1 muỗng canh nước mắm, 1 muỗng canh hạt nêm, ½ muỗng canh tiêu, 1 muỗng canh ớt băm nhỏ, 1 muỗng canh muối. Tất cả gia vị trộn đều với thịt gà và ướp trong thời gian 20 phút để thấm đều.

Sơ chế măng khô

Công đoạn sơ chế măng khô khá cầu kỳ. Bạn cần ngâm măng với nước qua 1 đêm, tốt nhất là nước vo gạo. Nếu không có thời gian ngâm qua đêm, bạn có thể luộc măng với lửa lớn trong vòng 30 phút.

Nếu ngâm qua đêm bạn nên thay nước 3 lần. Còn đối với luộc, bạn cần rửa sạch măng với nước qua nhiều lần để hết mùi và vị đắng có trong măng.

Măng sau khi đã ngâm mềm thì rửa thật sạch rồi xé từng sợi nhỏ, mảnh và dài.

– Bước 2: Nấu món gà hầm măng

Bạn bắc nồi lên bếp rồi cho 2 muỗng canh dầu ăn và 1 thìa hành tím băm nhỏ phi thơm. Kế đó bạn cho gà đã ướp gia vị vào đảo đều tay cho đến khi thịt săn lại. Sau đó cho măng vào xào cùng lúc. Để món ăn ngon hơn bạn cần xào kỹ măng cho chín trước khi cho nước vào. Nếu cho nước vào quá sớm sẽ khiến thịt và măng chưa được ngấm gia vị.

Muốn món gà thơm ngon, thịt mềm thì bạn nên sử dụng nồi áp suất để nấu để đảm bảo hương vị không bị thoát ra ngoài. Sau khi đã chín thịt gà và măng bạn đổ nước ngập gà và măng. Hầm đến khi cạn nước.

Khi nồi măng đã cạn nước bạn tắt bếp và múc ra tô. Gà hầm măng ngon hơn khi bỏ thêm một ít rau mùi.

Nguyên liệu dễ kiếm, công thức đơn giản dễ làm là bạn đã có ngay món gà hầm măng chuẩn vị miền Trung. Mùa đông tới rồi làm một nồi gà hầm măng cho cả nhà cùng ấm nào.

【#4】Hướng Dẫn Mẹ Cách Chế Biến Cháo Cho Trẻ Suy Dinh Dưỡng

Cách chế biến cháo cho trẻ suy dinh dưỡng rất quan trọng, trẻ suy dinh dưỡng thường lười ăn, hấp thụ kém nên cần món ăn ngon, hấp dẫn và đầy đủ chất dinh dưỡng.

Trẻ suy dinh dưỡng do nhiều nguyên nhân, phần lớn do bé lười ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng kém khiến trẻ không phát triển về thể chất. Vậy mẹ cần chế biến món ăn cho bé thế nào cho hợp lý lại hấp dẫn trẻ trong mỗi bữa ăn.

Món ăn của trẻ suy dinh dưỡng nên có thêm dầu/mỡ

Năng lượng ở dầu mỡ gấp đôi ở tinh bột và chất đạm, đối với trẻ suy dinh dưỡng, mỗi một bát cơm cần có thêm 1 thìa dầu hoặc mỡ. Bé hấp thụ được các loại vitamin tan E, D cũng nhờ một “chất xúc tác” là dầu, mỡ. Tuy nhiên, cần tham khảo bác sĩ mức độ dầu mỡ cung cấp cho trẻ tùy thuộc theo mức độ suy dinh dưỡng của trẻ.

Cho trẻ suy dinh dưỡng ăn cháo đặc

Khi bé ăn cháo loãng bé sẽ có cảm giác nhanh no và phải ăn nhiều hơn mặc dù năng lượng trong nó có rất ít bởi chủ yếu chỉ là nước. Tuy nhiên, cũng không nên nấu quá đặc khiến trẻ bị khó ăn, bên cạnh đó mẹ cần chuẩn bị thực đơn hấp dẫn cho trẻ tránh việc nhàm chán.

Trước bữa chính 2 tiếng, cần tăng thêm bữa phụ cho trẻ để bù năng lượng cho những bữa chính trước đó.

Bữa phụ cũng cần được bổ sung trước khi đi ngủ cho trẻ như hoa quả, sữa chua,…giúp trẻ dễ đi vào giấc ngủ. Tránh cho trẻ ăn quá no trước khi đi ngủ để hạn chế các bệnh về tiêu hóa ở trẻ.

Mỗi ngày cho trẻ ăn từ 5-6 bữa để khi trẻ ăn nhiều bữa thì sẽ giúp chúng không còn cảm giác bị ép ăn nhiều trong 1 bữa.

Tăng cường dinh dưỡng trong một bữa ăn với trẻ suy dinh dưỡng

Thức ăn của trẻ càng ngày phải càng đa dạng, phong phú. Khâu đoạn chế biến cũng nên chú ý hơn vì chúng ảnh hưởng đến màu sắc, hương vị và hình dạng thức ăn khiến trẻ có hứng thú ăn hay không.

Đối với rau củ quả cần cắt nhuyễn.

Cá và thịt thì băm nhỏ, xắt nhuyễn

Thức ăn nêm không quá mặn, vừa phải và không hâm đi hâm lại thức ăn cho trẻ.

Tuy thịt, cá là những thực phẩm giàu calo nhưng mẹ bé cần lưu ý để cân đối lượng thịt cá trong khẩu phần của con để tránh gây hại cho sức khỏe.

Đối với lượng tinh bột, trong một khẩu phần cơm cung cấp 200 calo năng lượng và 47g tinh bột. Chính vì thế, cần bổ sung thêm lượng tinh bột cho trẻ suy dinh dưỡng.

Theo Gia đình Việt Nam

【#5】Cách Chế Biến 3 Món Ngon Cho Bé Ăn Dặm Trong Mùa Hè

Cách nấu cháo ăn dặm cho trẻ dưới 1 tuổi ngon và đầy đủ dinh dưỡng Thực đơn ăn dặm cho bé 6 tháng tuổi dễ ăn giúp bé làm quen tốt hơn Cách nấu cháo tôm cho bé ăn dặm thơm ngon bổ dưỡng Cách chế biến 3 món ngon cho bé ăn dặm trong ngày hè Dù là một bữa họp mặt gia đình nho nhỏ hay một bữa tiệc thịnh soạn, ẩm thực luôn là một yếu tố không thể thiếu trong những dịp đặc…

  • Cách nấu cháo ăn dặm cho trẻ dưới 1 tuổi ngon và đầy đủ dinh dưỡng
  • Thực đơn ăn dặm cho bé 6 tháng tuổi dễ ăn giúp bé làm quen tốt hơn
  • Cách nấu cháo tôm cho bé ăn dặm thơm ngon bổ dưỡng

Dù là một bữa họp mặt gia đình nho nhỏ hay một bữa tiệc thịnh soạn, ẩm thực luôn là một yếu tố không thể thiếu trong những dịp đặc biệt này. Mọi người có thể chọn bất cứ loại thức ăn nào để thưởng thức, còn các bé vẫn chưa mọc răng hoặc chỉ mới có một vài chiếc răng vừa mới nhú lên thì thế nào?

Cũng như người lớn, các đều có khẩu vị khác nhau, nhưng có một đặc điểm chung là các bé đều thích những món nhiều màu sắc và vui mắt. Từ 6 tháng tuổi, bé đã có thể bắt đầu trải nghiệm các loại thức ăn khác ngoài sữa mẹ, không chỉ để bổ sung thêm các chất dinh dưỡng mà còn để bé làm quen với các loại thực phẩm mà bé sẽ thực sự ăn sau khi bạn kết thúc kỳ cho con bú.

Dưa hấu là một loại trái cây có công dụng giải khát rất tốt, và nước ép dưa hấu cũng có chức năng này. Nước dưa hấu mát lạnh không chỉ ngay lập tức xua tan cơn nắng nóng mà còn là thức uống ngon lành, giàu vitamin và các chất chống ô xi hóa. Đây là loại trái cây không thể bỏ qua trong thực đơn ăn dặm của bé. Mẹ hãy làm nước dưa hấu cho bé theo các bước đơn giản sau đây:

    Ban đầu, việc xay dưa hấu trong cối có vẻ khá khó khăn vì không có nhiều nước. Bạn có thể thêm 1/2 cốc nước mát vào để quá trình diễn ra nhanh chóng hơn.
    Cắt bỏ vỏ 1/4 quả dưa hấu, bỏ hạt bên trong và cắt thành những miếng nhỏ. Cho toàn bộ dưa hấu vào cối xay và xay nhuyễn. Khi dưa hấu đã được xay nhuyễn mịn, bạn đổ ra tô và cho bé ăn.

Màu vàng kem của chuối dễ dàng nổi bật trên nền màu xanh hoặc đỏ của dâu, dưa gang… và nhờ vậy, đĩa trái cây giải nhiệt mùa hè sẽ càng thêm hấp dẫn hơn. Ngoài ra bạn còn có thể có nhiều cách khác để chuẩn bị món ăn cho bé bằng loại trái cây này, đó là xay nhuyễn, cắt thành những khoanh tròn và làm món kem chuối.

Cách làm kem chuối cho bé:

Nguyên liệu: 6 – 8 quả chuối chín

Các bước thực hiện:

  1. Bóc vỏ chuối, cắt đôi quả chuối theo chiều dọc. Xếp các miếng chuối lên một khay nhôm có trải giấy nướng, ướp lạnh trong vòng 2 tiếng.
  2. Sau đó, lấy chuối ra và cho vào cối xay và xay nhuyễn. Thêm một vào muỗng nước lọc để chuối được xay nhuyễn nhanh hơn, tạo thành hỗn hợp mịn và đặc như kem.
  3. Thêm một ít chocolate nếu bạn muốn
  4. Cho chuối xay nhuyễn vào tô thủy tinh, ướp lạnh cho đến khi hỗn hợp đông lại như kem.
  5. Trang trí thêm một vài lát dâu tây hoặc đào để trang trí cho đẹp mắt

Món kem em bé này rất phù hợp cho các bé đang mọc răng, nó sẽ giúp bé giảm các cơn ngứa lợi khi răng bắt đầu mọc.

Đối với các bé lớn hơn 8 tháng tuổi, bạn có thể cho bé thử ăn trái xoài, ăn xoài chín hoặc pha chế với sinh tố đều ngon. Loại trái cây này chứa nhiều vitamin A và carotenoids hơn bất cứ loại trái cây nào.

Carotenoids được xem là chất giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư và bệnh tim mạch, đồng thời có khả năng phòng ngừa bệnh cảm rất tốt. Bé cũng có thể được cung cấp thêm vitamin C, B, cũng như chất sắt, kẽm và protein từ trái xoài.

【#6】Bắt Tổ Ong Vò Vẽ ,nhộng Ong Vò Vẽ Nấu Cháo ,món Ăn Đặc Sản.nhậu Say Cả Ngày

Thế giới động vật hoang dã mới nhất bắt ong rừng bắt ong vò vẽ nấu cháo nhộng ong vò vẽ nấu cháo nhộng ông vò vẽ xào xúc bánh tráng món ăn kinh dị nhất việt nam món ăn đặc sản của việt nam Nhộng ong vò vẽ có tác dụng gì bắt ong vò vẽ ngâm rượu cách chế biến nhộng ong vò vẽ đốt chích có chết không. bắt tổ ong vò vẽ trong rừng u minh thượng

Xin chào tất cả các bạn tôi là đi rừng và làm rẫy hôm nay xin mời các bạn theo chân tôi chúng ta cùng nhau vào rừng bắt tổ ong vò vẽ lớn nhất việt nam ,đi bắt tổ ong vò vẽ về ngâm rượu ong vò vẽ có tác dụng có tác dụng gì ,rượu ong vò vẽ chữa bệnh gì thì các bạn có thể tìm hiểu trên mang . hôm nay tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách bắt tổ ông vò vẽ 1 cách đơn giản mà không bị đốt hay chích . Lưu ý ong vò vẽ và ong bắp cày khác nhau hoàn toàn nha !! vì sao bởi vì tên của nó khác nhau .khác nhau chưa…

Thường dân bắt ong rừng ,hay bắt ong vò vẽ người ta sẽ có đầy đủ đồ nghề và dụng cụ để đi bắt ong vào ban ngày họ sẽ có mùng ở dưới tổ và 1 bộ đồ bảo hộ để khỏi bị ong vò vẽ đốt .Không cần phải nói ong vò vẽ mà đốt thì chỉ có chết người nó đốt 1 đến 2 mũi vào đầu có thể bị sốt liền nọc độc của ong vò vẽ rất nguy hiểm nhưng nọc độc của ong vò vẽ cũng rất tốt có cơ thể nó có thể chữa được rất nhiều bệnh cho nên người ta thường hay bắt nguyên con ong vò vẽ sống mang về nhà ngâm rượu .

Giá của nguyên 1 tổ ong vò vẽ tại thời điểm hiện tại tùy vào to hay nhỏ có thể tầm giá vài triệu nhưng không có để mua .còn nhộng ong vò vẽ giá hiện tại tầm 600 đến 1 triệu đồng 1 kg còn không có để mua .bởi vì ong vò vẽ bây giờ người ta bắt nhiều quá nên có gần như tuyệt chủng luôn rồi.

Hôm nay tôi may mắn ra vườn mới phát hiện 1 tổ ông vò vẽ ,con này nấu cháo hay xào xúc bánh tráng nhậu là đúng bài .đây là món ăn kinh dị có thể ăn sống được luôn nhưng .Có người hỏi ăn nhộng ong vò vẽ có bị dị ứng không xin thưa là có và tuy vào thể trạng của từng người , nếu bạn ăn thử cảm thấy không ổn trong cơ thể thì có thể bạn không ăn được nhộng ong rừng .Còn thử ăn nhộng ong vò vẽ để biết có cảm giác gì có ngon không thì xin thưa là bá cháy bò chét ,nhộng ong rừng có thể ăn sống được nó rất béo mùi vị rất là thơm nhạy cái này nhậu rượu là say cả ngày luôn ấy.

Tôi là dân không chuyên nên bắt ông theo như số đông thì thường thường bắt ong rừng hay bắt ông bắp cày bắt ong vò vẽ người ta thường bắt vào buổi tối vì tối ong sẽ không thấy được họ sẽ dùng rơm để thui ngay miệng tổ con nào bay ra sẽ bị cháy cánh rơi xuống đất . giống ông này khi thấy anh sáng là chúng bay tới tấn công nên mọi người cẩn thận và cảnh giác ,tổ ong sau khi thui xong người ta sẽ dùng cù liêm hay cưa để giật tổ ong bắp cày xuống . con ong bắp cày ,vò vẽ nào còn sống thì sẽ bắt ngậm rượu gạo để chữa bệnh ,con các tổ nhộng sẽ mang về lấy hết con ra và chế biến các món nhậu từ nhộng ong vò vẽ ong bắp cày .

Ong vò vẽ thường làm tổ trên những ngọn cây cao trong những vườn cây cách nhận biết đâu là tô ong vò vẽ và ông mật tổ ong vò vẽ thường có hình tròn hình hồ lô mà màu vàng nhạt có 1 lỗ duy nhất để ra và vào đây là cách nhận biết tổ ong vò vẽ .Tổ ông vò vẽ được là bằng gì .Tổ ong vò vẽ được là từ cây gỗ và phân trâu bò sẽ được cúng nhào nạn và đắp thành tổ ,tổ sẽ lớn dần theo thời gian tùy vào số lượng quân số trong đàn và các tầng nhộng ong.

Nhộng ong vò vẽ ong bắp cày nhín giống như con mối chúa hay con giòi vậy nó cứ que quáy trong tổ nhìn nhất lạnh người có nhiều người không dám ăn dù chỉ 1 lần vì đang cũng thuộc món ăn kinh dị nhất việt nam nhìn rất rợn người . Có ai dám thử thách ăn nhộng ong vò vẽ sống không đây là món ăn kinh dị khiến nhiều người phát sốt khi nhìn thấy lần đầu tiên

Tag : bắt ong vò vẽ bắt ong bắp cày nhộng ong vo vẽ có tác dụng gì công dụng của ong vò vẽ ong bắp cày ngậm rượu có tác dụng gì uống rượu ong vò vẽ có tốt không rượu ong vò vẽ chữa bệnh gì ong bac cay ky sinh ong bac cay sa mac ong bac cay khong lo ong vo ve ngam ruou uong co tac dung gi ong vò vẽ làm tổ trong nhà tốt hay xấu ong vo ve chich phai lam sao ruou ong vo ve tri benh gi cach che bien nhong ong vo ve ong bap cay nhong ong ngam ruou co tac dung gi nhong ong vo ve nau chao nhong ong vo ve xao xuc banh trang mon an kinh di nhat the gioi mon an kinh di nhat viet nam mon an kinh di nhat trung quoc mon an kinh di nhat hanh tinh ong vo ve thuong lam to o dau cach nhan biet ong vo ve va ong bap cay to ong vo ve duoc lam tu dau can canh nhung con nhong ong vo ve

Cám ơn các bạn đã quan tâm theo dõi và đừng quên đăng ký !!!

Video Thuộc về : Đi Rừng Và Làm Rẫy

Link :

Email : [email protected]

【#7】Cách Chế Biến Súp Cua Biển Bé Yêu Thích Mê

Súp cua biển là món ăn bổ dưỡng rất tốt cho trẻ nhỏ, người già, người mới ốm dậy,… Bổ sung cua biển thường xuyên rất có lợi cho mắt, xương,… Với mong muốn bạn sẽ mang đến bữa ăn an toàn, dinh dưỡng cho gia đình, Truefood sẽ chia sẻ công thức chế biến súp cua biển tự làm ngon như nhà hàng.

Hầu như, các bé nhỏ tuổi thường rất biếng ăn. Điều này luôn làm các bà mẹ trẻ đau đầu không biết nên cho con mình ăn gì. Súp cua biển chính là giải pháp tuyệt vời dành cho bạn. Đảm bảo bé sẽ thích mê hương vị của món ăn này.

1. Nguyên liệu chuẩn bị làm súp cua biển

– Cua biển: 2 con

– Thịt ức gà: 150gr

– Xương ống: 1 kg

– Ngô ngọt: 1 bắp

– Nấm đông cô: 50gr

– Trứng gà: 2 quả

– Trứng cút: 10 quả

– Rau mùi: 1 nắm

– Các loại gia vị: Muối, nước mắm, tiêu, hạt nêm, bột năng, dầu mè, dầu ăn,…

2. Cách chế biến súp cua biển

– Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

Khi mua cua biển, bạn nên chọn những con tươi ngon, còn sống. Khi mua về bạn hãy rửa sạch sẽ để loại bỏ cát và bụi bẩn của cua. Cọ kỹ phần mai, yếm cua cho thật sạch.

Bạn bắc nồi nước lên bếp và cho cua vào luộc. Khi nước sôi, cua chuyển qua màu cam thì bạn tắt bếp, vớt cua ra. Để cua nguội thì gỡ lấy thịt, xé nhỏ cho vào bát.

Xương ống bạn cho vào nồi nước luộc qua cho sạch bụi bẩn. Sau đó cho xương vào ninh trong khoảng 1 – 2h để nước xương ngọt. Bạn lấy khoảng 1l nước xương để nấu súp cua biển.

Thịt ức gà rửa sạch, đem luộc. Sau khi luộc chín, để thịt gà nguội và xé sợi nhỏ.

Ngô ngọt bỏ vỏ, rửa sạch, tách hạt.

Nấm đông cô ngâm trong nước cho nở ra rồi sửa sạch, để ráo. Thái nấm thành sợi.

Rau mùi rửa sach, thái nhỏ.

Trứng cút bắc lên nồi luộc sôi. Khi trứng chín, tắt bếp, vớt ra để nguội và bóc vỏ trứng.

Bạn cho 50gr bột năng cùng với một ít nước rồi khuấy đều cho tan bột.

– Bước 2: Cách chế biến súp cua biển

Bạn bắc nồi lên bếp và đổ 1l nước dùng xương đã chắt vào nôi, đun sôi. Lần lượt cho các nguyên liệu: Ngô ngọt, gà xé sợi, nấm đông cô vào nấu đến khi chín mềm.

Tiếp theo bạn cho thịt cua xé sợi vào nấu cho chín. Nêm nếm với 1 thìa café hạt nêm, 1 thìa canh muối.

Bạn đổ bột năng từ từ vào nồi súp. Dũng muỗng khuấy đều để bột không bị vón cục và thu được nồi súp đặc, sóng sánh.

Trứng gà đánh tan và đổ từ từ vào nồi súp rồi khuấy đều. Sau khi các nguyên liệu đều chín thì bạn cho trứng cút vào và tắt bếp. Lúc này hãy cho rau mùi thái nhỏ, một xíu hạt tiêu vào. Múc súp cua biển ra bát và thưởng thức.

Món súp cua biển với thịt cua biển tươi ngon, chắc thịt, thịt gà mềm ngọt, nước súp sánh quyện với vị bùi của ngô, nấm. Bé chắc chắn sẽ rất thích món ăn này.

【#8】Đông Bắc & Tây Bắc Việt Nam

Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn(Hà Giang), thác Bản Giốc và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), v.v…; những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng. Năm 2010, nhiều công ty du lịch VN đã tổ chức tour du lịch vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam.

Tôi đã đi Hạ Long nhiều lần rồi nên kỳ này, tôi quyết định chỉ đi Sapa và vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam. Năm nay (2011), giá tour trong nước tăng cao do nhiều nguyên nhân(điện + nước + xăng dầu tăng, vật giá tăng nên cái gì cũng tăng theo); thậm chí so với giá tour nước ngoài(như đi Thái Lan, Campuchia, Sing – Mã, etc…) thì bà con thà rủ nhau đi nước ngoài vẫn thích hơn; nhất là thái độ phục vụ. Từ Saigon, tôi bay ra Hà Nội và công ty du lịch đón tại sân bay rồi đưa đi Sơn La, qua Mộc Châu (đường quốc lộ 6: Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Lai Châu) và ghé ăn trưa tại

Thị trấn Phù Yên. Nếu theo quốc lộ 37: Mai Sơn – Bắc Yên – Điện Biên – Phù Yên – Yên Bái, chúng ta sẽ đi Điện Biên hay Yên Bái.

Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã tổ chức nhiều tour ngắn ngày và đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia ” Quế Lâm Ngự Chế” – bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng, dưới lòng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ vòm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

Khi áng chiều đã trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những dòng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh bình, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn mình theo triền núi. Cách trung tâm thị xã gần 5 km, điểm tham quan và thư giãn tại khu Suối nước nóng Bản Mòng hiện ra còn nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đã lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xã Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những dòng suối nước trong veo và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần hòa quyện cùng điệu xòe bên ánh lửa bập bùng sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành trình về với Sơn La. Mời các bạn hãy đến thăm Sơn La.

Chiều, chúng tôi t ới TP Sơn La. Sau khi nhận phòng và dùng bữa tối , chúng tôi TP Sơn La về đêm Sơn La cách bia văn của hoàng đế đi thăm qua và đi tắm suối khoáng nóng rồi mới về nghỉ đêm tại khách sạn. Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố háng 1 năm sau. Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ “Quế Lâm Ngự Chế” gồm 140 chữ Hán.Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12

Những con đường rộng bình yên, những thiếu nữ dân tộc người Thái và Mường xúng xính trong váy áo với nhiều hoa văn làm say lòng khách lạ, làm tan đi cảm giác mỏi mệt sau một hành trình dài hơn 300km từ một bến xe của Hà Nội. Được xây dựng vào năm 1908, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ cấp tỉnh với diện tích 500m 2, sau được thực dân Pháp mở rộng diện tích lên gấp ba lần, nhà ngục Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là nhà tù thép, là nơi giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam.Với những căn phòng tối bằng gạch và đá khá kiên cố, mái lợp tôn, mùa hè nơi đây tựa một lò nung và mùa đông thực sự là một chiếc tủ lạnh trong gió mùa biên ải khắc nghiệt.Giữa những bức tường nhà ngục đổ nát như là minh chứng cho những tội ác dã man của kẻ thù, tình cờ tôi đã gặp bác Trần Nguyên, một cán bộ thông tin của chiến trường miền Đông Nam Bộ, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lặn lội từ Quân khu 4 ra thăm. Ông ra thăm với mục đích duy nhất là muốn được nghe lại những câu chuyện cảm động về hoạt động của chi bộ đảng nhà tù Sơn La, đi thăm và cảm nhận về sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử.

Cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Thái dẫn chúng tôi đi thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian… Đến mỗi một địa danh, chúng tôi lại được nghe những câu chuyện cảm động về sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù, tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, tổ chức vượt ngục… của những cán bộ ưu tú của Đảng như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu….

Cây đa bản Hẹo là địa điểm liên lạc bí mật giữa Trung ương Đảng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ địa điểm liên lạc này, Chi bộ nhà tù Sơn La nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương Đảng để tổ chức lãnh đạo đấu tranh giải phóng nhà tù, đưa các cán bộ trung kiên của Đảng trở về với phong trào cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều Đảng viên Cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7/3/1944. Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đồng chí Tô Hiệu, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cho khắc tấm bia đá có chữ Tô Hiệu, bí mật đặt dưới mộ đồng chí. Cây đào mang tên Tô Hiệu được trồng bên tường trại giam hiện nay vẫn còn, bốn mùa luôn xanh tươi như một minh chứng về sức sống lâu bền của cách mạng Việt Nam, thành một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt. Nhà tù Sơn La gồm có 5 nhà giam chính, 4 tháp canh cùng một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu trong lòng đất gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể. Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, và đến năm 1965, Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La, phá hủy một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại. Lần thứ nhất, san lấp hố bom, xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần thứ hai, vào năm 1994, phục chế lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Hiện nay, nhà tù Sơn La trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Hằng năm Bảo tàng Sơn La đã đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách là các em học sinh, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sinh viên, khách ngoại tỉnh và quốc tế tới thăm.

Tới thăm bản Cọ – quê hương của anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá

Bản Mòng là một địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng hấp dẫn thuộc xã Hua La, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Điều đầu tiên mà du khách cảm nhận được là cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình nơi đây. Những dãy núi nhấp nhô như thân rồng uốn lượn soi mình xuống dòng Nậm La. Trên các sườn đồi cà phê, mơ, mận, thông, tre mọc um tùm. Xa xa là rừng cây với các loại gỗ quý: đinh hương, sến, nghiến, thông, trẩu….và hàng chục loài hoa phong lan với nhiều màu sắc. Vào độ xuân về, hoa mơ, hoa mận và hoa ban đua nở trằng rừng với từng bày ong bay tìm mật tạo nên không khí vui nhộn. Khi đông về, hoa vông gai nở đỏ rực bên sườn đồi như tô điểm cho những ngôi nhà sản lợp ngói đỏ. Cái rét se lạnh cũng là thời điểm lý tưởng để thả mình trong dòng suối nước nóng.

Đến với vùng đất này du khách còn có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc có chữ viết từ thế kỷ XI. Hiện tại, Bản Mòng có 106 hộ dân thuần Thái sinh sống. Họ sống trong nhà sàn lợp ngói ven các sườn đồi. Bên trên nóc nhà được trang trí bởi các loại khau cút, và cửa sổ cũng có đủ các loại hình thù: hình ngà voi, hình mặt trăng… Người dân nơi đây làm các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, dệt thổ cẩm, đan lát, làm gốm.

Với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, những cư dân nơi đây đã biết tạo nên những món ăn dân dã nổi tiếng như món xôi được chế biến từ gạo nếp dẻo thơm ủ trong những cái ếp khảu nhỏ xinh xắn, món cơm lam nấu từ gạo được ngâm sau mấy giờ cho vào một loại ống tre non đốt trên than củi có mùi thơm đặc biệt, cá nướng, thịt khô, các món rau, măng đặc sản của vùng núi: măng lay, măng bói, măng đắng, nấm hương, nấm mối, rau sắng, sổm lôm…….

Trong những đêm trăng bên ánh lửa bập bùng trong nhà sàn, du khách sẽ được cùng với chủ nhà thưởng thức những hương vị đặc sắc cùng chum rượu cần. Lòng hiếu khách của người dân và phong cảnh hữu tình nơi đây sẽ giúp quý khách quên hết những mệt nhọc của một chuyến đi xa và những bận rộn đời thường. Những âm hưởng hòa quyện của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chim rừng thánh thót cùng điệu múa xoè, múa cánh bướm, múa piêu… thúc giục như mời chào quý khách cùng hoà nhập với âm điệu của lời hát Inh lả ơi…” chắc chắn sẽ để lại cho du khách cảm giác bâng khuâng, lưu luyến và mong có ngày được trở lại với Bản Mòng.

Hang Dơi thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với diện tích là 6.915 m2. Nơi đây dưới sự tác động của thiên nhiên đã tạo ra những hang động lớn với những cảnh đẹp mê hồn, cùng địa hình có độ dốc lớn những dòng suối chảy đã tạo ra những dòng thác khiến không ít du khách phải trầm trồ thán phục.

Từ đường quốc lộ, muốn tới hang thì bạn phải leo 240 bậc mới tới được cửa hang. Tuy nhiên, đường được tạo dáng uốn khúc nên sẽ làm giảm bớt cảm giác mỏi mệt của du khách. Khi lên đến cửa hang, điều đầu tiên mà du khách cảm nhân được chính là khí hậu nơi đây vô cùng mát vẻ khiến bao mỏi mệt bỗng chốc tan biến.

Những dãy núi uốn lượn bao quanh thung lũng tạo nên một cảnh tượng có một không hai: Vào buổi sáng thì bầu trời chỉ toàn một màu trắng, đến buổi trưa thì màu xanh biếc, buổi trưa thì rực hồng và màu tím biếc khi hoàng hôn.

Từ cửa hang bước vào, du khách sẽ cảm thấy sững sờ khi thấy một cảnh sắc diệu kỳ hiện ra trước mắt trong ánh sáng mờ ảo từ cúa hắt vào như thể tạo hóa đã cảm tỉnh riêng với nơi đây mà nhô ra những vẻ đẹp kỳ thú. Trên trần động cao rủ xuống những dải nhũ thạch lấp lánh đủ 7 sắc cầu vồng.

Phần giữa hang vòm động được nâng cao lên, có bức mành đá chắn ngang và được gọi là buồng “Công chúa”. Bên phía trái là khối nhũ đá hình người con gái đang ngồi quay sợi. Không những vậy, nơi đây còn có rất nhiều nhũ đá đủ mọi hình dáng do thiên nhiên khéo léo tạo thành.

Trong lòng hang cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ, nhìn vào những đường nét trạm trổ trên nhũ đá cho ta cái cảm giác như có bàn tay của con người can thiệp vào bởi nó quá tinh xảo và sống động. Tuy nhiên, những cảnh đẹp nơi đây đều do thiên nhiên ban tặng.

Trên vòm hang có nhiều hốc đá, đây chính là tổ của những đàn dơi đông đúc, đen kịt và do đó nó mới có tên là Hang Dơi. Từ trên vòm hang, những giọt nước nhỏ xuống nhủ đá tạo nên một thứ âm thanh vô cùng thánh thót và êm dịu, thứ âm thanh đó đã khiến không biết bao du khách mãi nhớ đến Hang Dơi.

tiếp tục dừng chân nghỉ và ngắm cảnh t Sau đó, chúng tôi khởi hành đi Điện Biên, ngắm cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc với các bản dân tộc Thái, Mường. Trên đường đi chúng tôi rên đỉnh đèo Pha Đin (một trong những đèo dài nhất Việt Nam), thăm khu du lịch Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. D ùng bữa trưa tại khu du lịch Pa khoang.

Sân bay Điện Biên ngày nay

Phóng viên ảnh Hoàng Chương, Minh Nguyệt, Chị Oanh cùng Đào Xuân Mai và cây bút hài Nguyễn Hữu Nhiệm từ trái qua trước bảo tàng Điện Biên

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng đờ castri ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hai cô gái xinh đẹp là cộng tác viên bản tin từ trong hầm chỉ huy ra Minh Nguyệt, Hoàng Anh Phương

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Ngày xưa đồng vẫn màu đồng

Ngày nay đồng chuyển màu hồng sang …đen.

(Đó là cách nói ví von về các vị chức sắc biết cách “ăn đồng”).

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Đào Xuân Mai và anh Trần Hồi Trước hầm chỉ huy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Phó tổng giám đốc, Tổng biên tập bản tin

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Gái này chẳng phải Thái đâu Trong bản làng văn hóa Điện Biên

Trước hồ em đứng …lên màu liêu trai

Giới thiệu cách thức nấu xôi nếp cẩm Hoàng Anh Phương và cụ bà hơn trăm tuổi

Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và 6. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên. Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.

Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, Lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.

Khí hậu tỉnh Điện Biên là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC. Nhờ khí hậu núi cao, thiên nhiên hoang sơ nên Điện Biên đang được đầu tư để trở thành điểm du lịch nhưng nói thật là thái độ phục vụ & ăn uống quá tệ, e rằng khó có du khách nào muốn trở lại lần nữa.

Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.

Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.

Mấy năm nay con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng khiến khoảng cách giữa Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần và đây là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Thành thật mà nói thì ngồi thuyền trên sông vẫn thích hơn ngồi xe suốt ngày; ít ra cũng mát mẻ hơn và thoải mái ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ ở 2 bên bờ sông.

Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1. Các điểm du lịch

Đồi A1

Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi.

Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

Nằm tại khu phố 1, P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Bảo tàng Điện Biên Phủ được xây dựng vào năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

-Vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ.

-Tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ.

-Đảng chuẩn bị đường lối chỉ đạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

-Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ.

-Điện Biên Phủ ngày nay.

-Hầm chỉ huy tướng Đờ Cát : Nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Nằm trong một khu rừng nguyên sinh tại địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25km về phía đông.

Để đến đây du khách phải đi bằng ô tô, vượt qua dốc Tà Lơi hiểm trở và nhiều đoạn đường quanh co, khúc khuỷu. Gần với Sở chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi độ cao trên 1.000m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Đến sở chỉ huy, du khách sẽ được thăm các điểm sau :

-Chòi canh gác số 1

-Hầm thông tin liên lạc

-Đài quan sát

-Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

-Lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái

-Đường hầm xuyên núi dài 96m nối liền lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Hầm của ban cố vấn Trung Quốc

-Nhà hội trường

-Hầm ban chính trị

Đèo Pha Đin nằm trên đường từ Hà Nội lên Điện Biên, ở ranh giới giữa tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo Pha Đin

Đèo dài 32km, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh. Pha Ðin tiếng địa phương nghĩa là Trời Ðất. Theo truyền thuyết địa phương, đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất.

Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

Hồ Pá Khoang

Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km. Trong khu vực lòng hồ có các bản dân tộc Thái, Khơ Mú là những dân tộc còn giữ được những phong tục tập quán, nét đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc …

Hang Thẩm Báng

Thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Hang Thẩm Báng đã được xếp hạng di tích và là một điểm tham quan của du khách. Đây là hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn nguyên vẹn. Lòng hang rộng và sâu, cao gần 100m, có nhiều ngách.

Giữa hang có phiến đá to bằng phẳng như mặt bàn. Nhìn lên các vách, trần đá, nhiều măng đá, nhũ đá tạo thành những hình thù những con rồng, con phượng, sư tử, voi quì hoặc những đoá phong lan tuyệt đẹp.

Cầu Mường Thanh

Chiều: chúng tôi t ới Điện Biên, nhận phòng khách sạn xong là rủ nhau đi thăm và mua săm đồ lưu niệm tại chợ trung tâm Điện Biên Phủ. Sau đó, c húng tôi khởi hành đi tham quan bảo tàng Điện Biên, Viếng Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1, thăm Đồi A1, thăm Hầm sở chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries, Cầu Mường Thanh, Sông Nậm Rốm,v.v…

đền Hoàng Công Chất

Hầm bộ chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries

Sáng ngày thứ 3, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi khởi hành đi tham quan cửa khẩu Tây Trang – cửa khẩu quốc tế giữa Việt Nam và Lào. Trở lại TP Điện Biên, dùng bữa trưa tại nhà hàng.

khởi hành đi Lai Châu Chiều: Chúng tôi theo quốc lộ 4D dọc theo sông Nậm Na. Chúng tôi thăm quan cửa khẩu Ma Lu Thàng, tiếp tục khởi hành về TX Lai Châu, dùng bữa tối tại nhà hàng. Chúng tôi n TX Lai Châu ghỉ đêm tại khách sạn.( mới).

Sáng ngày thứ 4, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi trả phòng, khởi hành đi Tuyên Quang, qua Than Uyên, thăm Mù Cang Chải , ăn trưa tại thị trấn Tú Lệ.

Chiều: Tiếp tục hành trình qua t hị xã Nghĩa Lộ thăm suối Giàng, cây Chè 500 năm tuổi, tiếp tục hành trình qua thành phố Yên Bái về Tuyên Quang, chúng tôi nhận phòng khách sạn.Qua 400km, chúng tôi mệt lã người nên d ùng bữa tối tại nhà hàng xong là nhào lên tắm và ngủ 1 chút. Thức dậy, chúng tôi

dạo chơi tham quan thành Phố Tuyên Quang. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Một nhà thờ ở t hị xã Nghĩa Lộ

Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 07/5

Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

(chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

Đồng Văn

Sáng ngày thứ 5, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành chúng tôi vào thăm quan Bảo tàng Tân Trào và nghe giới thiệu về khu đi khu di tích lịch sử Tân Trào (ATK) – thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi mà Đảng Cộng Sản Đông Dương tiến hành hội nghị toàn quốc (13/08/1945) đến Tân Trào, di tích lịch sử Tân Trào (ATK) thăm quan Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cây Đa Tân Trào, lán Là Nừa, ăn trưa tại thị trấn Hàm Yên.

khởi hành theo đường Chiều: Tiếp tục hành trình đi Mèo Vạc, chúng tôi 4C đi Mèo Vạc – “Cổng Trời”, với độ cao khoảng 1.000m so với mặt biển, địa hình chập chùng núi rất khó khăn trong việc đi lại nhưng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho huyện vùng cao biên giới này một sức hút kỳ lạ đối với du khách. Đến Mèo Vạc, chúng tôi thăm chợ Mèo Vạc.

“Cổng Trời”Mã Pi Lèng

nhà vua Mèo

Mèo Vạc

Sau đó, chúng tôi t Lãng mạn hơn cả là chặng đường Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang cặp theo dòng sông Lô, dòng sông đã đi vào nhạc phẩm nổi tiếng của Văn Cao, và những dãy núi đá vôi trùng điệp. iếp tục khởi hành đi Đồng Văn. Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực. Đầu hè, những triền ngô(bắp) xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người H’Mông đang hối hả cày cấy… Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang. Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang! Thắng cố và rượu ngô là 2 món phổ biến nhất ở vùng này.

Ấn tượng nhất là cung đường lên cao nguyên Đồng Văn, một bên vách núi dựng đứng còn bên kia là vực sâu và con lộ phía trước tưởng chừng hút thẳng lên trời cao. Một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Đông – Tây Bắc mà nhiều du khách mong đợi được đặt chân đến chính là điểm cực bắc Việt Nam trên đỉnh Lũng Cú. Nơi đây từng được ví là “nóc nhà Việt Nam”, nơi mà người dân đất Việt nào cũng đều mơ ước một lần thưởng lãm.

Sau quãng đường dài với những thử thách ấy, chúng tôi được đền bù xứng đáng vì phong cảnh hoang sơ, hùng vỹ trải dọc các danh thắng cổng trời Quản Bạ, núi Đôi, dinh thự vua Mèo, đèo Mã Pí Lèng, những làng mạc của người dân tộc H’Mông trắng, Lô Lô, Dao đỏ… cứ vụt qua ô cửa sổ xe trên từng cây số xe chạy qua.

Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng “lõi của cao nguyên đá” là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái “dưa mèo” mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng. Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.

Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua “cửa ải” Yên Minh. Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá “độc”. Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan. Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi trên trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!

Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước. Vào các buổi sáng chủ nhật, dưới những mái ngói thâm nâu ấy là cả một thế giới kỳ lạ của ẩm thực! Rượu ngô người Mông 8.000 đồng/ lít, uống say tràn cung mây. Một dãy nhà ngang của chợ được dành riêng cho hàng ăn uống với rất nhiều quán phở thịt lợn. Trước dãy nhà này, xôi bảy màu của người Tày xếp thành dãy. Xế vào phía uỷ ban huyện Đồng Văn là những phản thịt lợn và kế bên là các lò thắng cố thơm phức vị thảo quả lẫn với mùi khói gỗ nghiến hệt mùi gỗ pơ mu.

Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món “gà mèo”, một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá “ứng xử” với gà mèo. Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!

Tới đây chúng tôi không chỉ được thoả sức ngắm nhìn trời đất mà còn được tham quan một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn – đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên Núi Đá.

Đồng Văn ( Hà Giang)

Về địa thế, Hà Giang có 8 huyện, một thị xã thì 2 huyện phía Tây bắc là vùng cao núi đất và 4 huyện phía Đông bắc là vùng cao núi đá. Năm 2010 tổ chức unesco – Liên hiệp quốc đã công nhận vùng cao nguyên núi đá này là công viên địa chất Quốc gia và Quốc tế. Đây là công viên đá thứ 69 trong các công viên địa chất toàn cầu và thứ hai trong vùng Đông Nam Á.

Ngày 03/10/2010, Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cao nguyên này có diện tích 2.350 km2, gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, độ cao trung bình 1.400-1.600 m, nơi tập trung nhiều loại hình di sản, nổi bật là di sản địa chất và di sản văn hóa. Ảnh: Thanh Hà.

Khu vực phía Đông bắc Hà Giang gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được gọi một tên chung là cao nguyên Đồng Văn. Ở đây, đá chiếm đến 3/4 đất đai; người, vật, cây cối, sông suối bám vào đá để tồn tại, sinh sôi phát triển. Toàn bộ cao nguyên là di sản đa dạng địa chất, đa dạng cổ sinh địa tầng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế thuộc các lĩnh vực lịch sử tiến hoá của vỏ trái đất.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng.

Thị xã Hà Giang điểm khởi đầu của xứ sở cao nguyên đá. Con sông Lô hiền hoà phân đôi thị xã, phía hữu ngạn sông, phố xá, công sở nằm ven theo các chân dãy núi đá sừng sững; độ cao so với mặt biển của thị xã chỉ khoảng 400 mét, nhưng nhờ núi đá mà mùa hè khí hậu khá mát mẻ, dễ chịu không khác với Đà Lạt, Sapa bao nhiêu. Cao nguyên Núi Đá Đồng Văn là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Ai đến Đồng Văn cũng háo hức chinh phục độ cao của đỉnh kéo đến cổng trời Quản Bạ, dừng chân ngắm cảnh

Rời khỏi thị xã là tiếp cận ngay với thế giới huyền bí của đá và mây trời. Con đường độc đạo từ thị xã qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc khi len lỏi giữa những rừng đá lởm chởm, lúc men theo những vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm; có đoạn lại vượt qua những ngọn đèo cao vút, quanh năm mây phủ dày đặc, dân địa phương gọi đó là cổng trời. Thế giới đá ấy đã hình thành mấy trăm triệu năm trước, trải qua quá trình phong hoá thầm lặng và dữ dội đã tạo thành những khu vườn đá với nhiều hình thù kỳ dị, đặc biệt, hấp dẫn. Đó đây, trong các thung lũng hẹp, lớp lớp các khối đá to nhỏ xếp gối lên nhau giống như những đàn gấu đen bóng, tựa vào nhau đang nằm nghỉ ngơi. Các dãy núi có hình dạng kim tự tháp nối tiếp nhau chạy dài từ nam lên bắc, đỉnh nhọn cao ngất ngưỡng, sườn dốc lởm chởm đá tai mèo. Khắp vùng Đồng Văn, Mèo Vạc lại có những chóp đá, tháp đá có hình dạng ngộ nghĩnh như những nụ hoa, bông hoa hoặc kiểu rồng cuộn, hổ ngồi… sự cấu tạo đa dạng này đã làm cho cảnh quan toàn miền cao nguyên không buồn tẻ, hiu quạnh như các khu vực chỉ thuần đá vôi cổ. Vùng này trước kia trồng nha phiến và buôn ma túy nổi tiếng; nay là vùng định cư của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã trồng rất nhiều đào, mận tam hoa(nectarine), v.v… chúng tôinúi RồngNơi có cột cờ cao 17m treo quốc Kỳ Việt Nam đánh dấu vùng lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc.Sau đó

Cổng Trời Quản Bạ, ngắm Núi Đôi rồi mới khởi hành đi Lũng Cú.

11h30 trưa, chúng tôi đến thị trấn Đồng Văn ăn trưa.

13h30: chúng tôi lên xe đi tham quan Lũng Cú – Mảnh đất Cực bắc của Việt Nam.

14h30: chúng tôi tham quan Cột Cờ trên đỉnh núi Rồng – di tích đánh dấu vùng lãnh thổ Việt Nam.

Bên cạnh những vách đá màu xám trắng lại xen kẽ những dãy đồi đá phiến thoai thoải bao phủ một lớp cỏ mượt mà màu xanh lá mạ, khi nắng chiều rải xuống, màn cỏ ánh lên một màu vàng vàng, tim tím cực kỳ huyền ảo. Sông suối chảy qua cao nguyên cũng khá kỳ dị, bí ẩn. Những dòng nước trắng xoá, trong veo đang réo ầm ầm bên chân núi bỗng nhiên mất hút trong lòng núi đá rồi lại hiện ra dưới các hẻm vực vừa dài vừa rộng như một lát dao sắc ngọt xẻ đôi khối núi đồ sộ. Sự đa dạng, phong phú về sinh học của cao nguyên cũng hết sức độc đáo. Xen lẫn giữa những khối núi đá hùng vĩ là các khoảnh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn với nhiều loại gỗ, lâm sản, dược liệu quý hiếm như: nghiến, thông đá, tùng bách, dẻ, thảo quả, hương nhu, đỗ trọng, nấm hương, các loài phong lan v.v… Cao nguyên đá cũng là môi trường thân thiện của trên 50 loài thú, bò sát, chim muông như: sơn dương, gấu, vọc, khỉ, hoẵng, heo rừng, cầy hương, kỳ đà, trăn, gà rừng, trĩ, đại bàng, hoạ mi v.v… Hai loại cây được xem là những cây đặc trưng của vùng cao nguyên đá, gồm đào phai và mận tam hoa, sẽ được trồng dọc tuyến đường vào các điểm du lịch, điểm dừng chân, danh lam thắng cảnh, làng văn hóa du lịch cộng đồng, xung quanh trường học, trụ sở cơ quan, quanh các hồ chứa nước sinh hoạt. Trên đoạn đường phía Tây từ thị trấn Đồng Văn qua Mèo Vạc là ngọn đèo Mã pí lèng, một cảnh quan địa mạo tuyệt đẹp. Đứng trên đỉnh đèo ta có cảm tưởng chỉ vài sải tay là có thể với được tới trời. Dưới chân đèo, bên hữu, ở độ sâu hơn 1000 mét là dòng sông óng ánh bạc Nho quế, con sông lớn nhất của cao nguyên bắt nguồn từ Lũng Cú, luồn lách, ẩn hiện qua nhiều dãy núi đá để đưa nước về hợp lưu với sông Gâm, chi nhánh lớn của Lô giang.

Cùng với những giá trị đặc hữu về địa chất, địa mạo, sinh học, cảnh quan… cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống đẹp đẽ của 22 dân tộc anh em cư trú nơi đây. Từ bao đời nay bà con các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã sáng tạo ra cách sản xuất, cách sống, ăn, ở… riêng biệt để thích nghi với môi trường thiên nhiên.

Từ thị trấn Đồng Văn ngược thẳng về phía Bắc khoảng 20 cây số là xã Lủng Cú, mỏm địa đầu của đất nước, nhìn lên bản đồ Việt Nam, cái chóp nhô cao như một mũi mác, chính là đất Lủng Cú. Những ngọn núi xếp lớp đơn nguyên nơi đây là điển hình của loại đá trầm tích, loại đá cổ nhất của trái đất. Lũng Cú ở độ cao gần 1800 mét. Đứng giữa xứ sở này, ta có cảm giác như đang sống bồng bềnh giữa mây ngàn gió núi; mây trắng bời bời phủ che trên đầu, trôi lững lờ dưới chân, bao quanh lẩn quất bên mình.

Tại thôn Séo Lũng, cách trung tâm xã gần 5 cây số có ngọn núi Rồng, cột cờ Tổ quốc dựng trên đỉnh núi, sát cột mốc số 17 biên giới Việt – Trung. Tên núi Rồng đã có từ lâu đời, do đồng bào địa phương đặt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên núi nơi địa đầu Tổ quốc với dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc ta. Lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54 mét vuông – tượng trưng cho 54 dân tộc anh em ngày ngày kiêu hãnh tung bay giữa trời xanh, khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc ta. Bao thế hệ qua, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, mọi áp lực, những người dân thuộc hai dân tộc kiên cường Mông, Lô Lô ở Lũng Cú đã không tiếc mồ hôi, xương máu để bảo vệ quốc kỳ, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng. Lớp lớp người dân Lũng Cú xứng đáng với niềm tin, sự kính phục của nhân dân cả nước.

Cho đến nay, cảnh vật, con người trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang vẫn giữ được khá đậm đà những nét hoang sơ, kỳ vĩ, tinh khiết có sức lôi cuốn đối với du khách trong và ngoài nước.

Phía tả đèo, một thung lũng hẹp hun hút dưới sâu với đôi ba chục nóc nhà nhỏ tựa lưng vào dãy núi đá vời vợi, một ngôi làng quá heo hút nhưng lại được khá nhiều người không chỉ Hà Giang biết đến, bởi hàng năm ở đây diễn ra một phiên chợ đặc biệt: chợ tình khau vai, mỗi năm chỉ họp một lần vào cuối mùa xuân. Gọi chợ tình là theo nghĩa thông tục, chứ ở đây, người về chợ là để giao lưu tình cảm, tình yêu đôi lứa, không hề có chuyện mua bán hiện đại. Chợ tình khau vai hay gọi đúng hơn ngày hội tình yêu – tình bạn là một trong những nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng của các dân tộc Đồng Văn.

Những ngày hội dân gian, các ngày phiên chợ hàng tháng, người người từ các bản làng gần xa tụ hội về đông vui tấp nập, màu sắc trang phục sặc sỡ, đẹp mắt; cả không gian tràn ngập tiếng cười nói, lời ca ngọt ngào, âm thanh đàn, khèn, sáo du dương, quyến rũ. Người lớn tuổi, thanh niên không phân biệt nam nữ gặp nhau trong các hàng quán bình dân, tuỳ lứa tuổi và sức khoẻ, họ mời nhau chén rượu ngô thơm nồng, bát thắng cố béo ngậy, bát cháo ẩu tẩu vừa có vị đăng đắng lại ngòn ngọt… những món ẩm thực đặc sản, ai được thưởng thức một lần là nhớ mãi….

Điểm cực Bắc của Tổ quốc và cũng là trung tâm của cao nguyên đá là thị trấn Đồng Văn. Nơi đây là xứ sở độc đáo về khí hậu và địa hình “Đất rộng mênh mông nhưng không được bao nhiêu thước bằng phẳng – Trời quanh năm không được vài ngày nắng”. Khu phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 19. Tuy thời điểm xây dựng không đồng nhất nhưng cung cách kiến trúc đều có nét khá tương đồng: nhà hai tầng, tường đá xanh, khung nhà gỗ không có mộng thắt, không chạm trổ cầu kỳ, mái lợp ngói âm dương… Hiện nay còn lưu giữ 20 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Dinh thự họ Vương và khu phố cổ Đồng Văn đã được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Phố thị Đồng Văn còn là nơi tiêu biểu của những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cao nguyên.

Thời Pháp thuộc, Vương Chính Đức đã giành được quyền tự trị đất Đồng Văn. Người kế nhiệm Vương Chí Thành đã ngăn giữ không cho người Nhật xâm nhập vào Đông Văn. Cách mạng tháng 8 thành công, Vương Chí Thành giao đất Đồng Văn cho chính quyền cách mạng quản lý. Bác Hồ kết nghĩa huynh đệ với Vương Chí Thành, những năm 60 thế kỷ trước ông được Bác Hồ mời về sống ở Hà Nội để có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tuổi già.

Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc dân gian dân tộc ấy là dinh thự họ Vương ở Sà phìn, cách thị trấn Đồng Văn khoảng 10 cây số. Đây là dinh thự của Thổ ty Vương ChínhĐức. Đầu thế kỷ thứ 20, khi chấp chính ngôi vị Thổ ty – một chức quan cai trị Đồng Văn, Vương Chính Đức triệu thợ giỏi các tộc người Mông, Lô Lô, Phù Lá… các địa phương trong vùng về xây dựng dinh thự. Toàn bộ 10 ngôi nhà ngang, dọc rộng hơn 1200m2, các dãy nhà phụ, tường rào bao quanh đều xây bằng đá. Từng chi tiết xây cất, đẽo gọt đá, gỗ ván đã thể hiện sự khéo léo, tinh tế, đặc sắc của tay nghề những người thợ dân gian bản địa.

Những khoảnh đất trong các thung lũng giữa trùng vây đá núi được kết cấu thành những mảnh ruộng bậc thang; tận dụng các hốc đá tai mèo, bà con đã gùi đất lên bỏ vào từng hốc để gieo ngô, đậu. Vào mùa hè, mùa mưa ở cao nguyên, lúa, ngô, đậu, lanh, tam thất, hương nhu… trên nương rẫy, hốc đá vách núi tốt tươi xanh mướt hoà lẫn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dại và cỏ mật. Nhà cửa, bờ rào vườn tược, chuồng gia súc đều xây dựng bằng đá. Nghệ thuật kiến trúc đá đã đạt mức độ tinh xảo.

dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn

Trong tour du lịch về miền đá Đồng Văn, Lũng Cú, không ai muốn bỏ qua cơ hội thăm di tích nhà họ Vương, một dinh thự cổ ngủ vùi giữa thung lũng sa mộc, hội tụ nhiều giá trị kiến trúc Trung Hoa và người Mèo Hà Giang. Người ta vẫn gọi đây là dinh vua Mèo.

Mái ngói âm dương phân lớp theo kiến trúc cổ

Dinh vua Mèo ở huyện Đồng Văn, cách Hà Nội chừng 500km, sau khi vượt qua những chặng đường men theo sườn núi, ngoằn ngoèo như những sợi chỉ, vượt qua Cổng trời Quản Bạ. Nơi đây, một thời, ông Vương Chính Đức đóng Cổng trời lại, xưng vương. Miền đá tỉnh Hà Giang hiếm có một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo thế này. Mấy chục năm qua, những ai lên đến Hà Giang thường không bỏ qua di tích này.

Nhà họ Vương nằm nép mình dưới tán rừng cây sa mộc cổ thụ, cao vút. Những phần nhà xuống cấp đã được phục hồi nguyên trạng. Toàn bộ hệ thống tường thành được xếp bằng đá nhẵn thín với phiến đá to, chẳng cần vôi vữa mà vẫn vững chắc. Nhà được bố trí theo kiểu cung điện Trung Hoa, được phân ra nhiều khu: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà kho, phòng của vợ ông Vương Chính Đức, hay nhà thờ. Trước cổng của ngôi nhà là ngôi mộ bằng đá chạm khắc tinh vi, là mẹ ông Vương Chí Sình, đại biểu Quốc hội các khoá I, II, III. Nơi đây còn lưu giữ một số hình ảnh về ông vua mèo oai phong lẫm liệt. Qua cổng chính là đến ba, bốn lần cổng nhỏ. Dọc hai bên hành lang của dãy nhà cao nhất là dãy nhà ngang, nhà dọc, bố trí từ thấp lên cao (theo lối kiến trúc Trung Hoa), phần trên là ảnh thờ ông Đức phóng to khi còn làm bang tá. Có cầu thang đi lên khu pháo đài, lỗ châu mai, có kè đá tảng. Các hạng mục chủ yếu được phục dựng bằng gỗ và đá. Một số đồ dùng xưa như tủ quần áo, lò sưởi của gia đình họ Vương vẫn được lưu giữ như những tín vật.

Sáng ngày thứ 6, chúng tôi dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành đi chúng tôi khởi hành đi chúng tôi tiếp tục khởi hành về thị xã Hà Giang nhận phòng, ăn tối. thăm quan chợ Đồng Văn. Sau đó, chúng tôi thăm Lũng Cú điểm cực Bắc địa đầu tổ Quốc, thăm quan và chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc cực Bắc địa đầu tổ Quốc. Ăn trưa tại thị trấn Yên Minh, sau đó Nghỉ đêm tại Hà Giang.

Sáng ngày thứ 7, dùng điểm tâm tại khách sạn, khởi hành theo quốc lộ 2 qua Chiêm Hoá và đường 279. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng.

đi thuyền Chiều: Tới Ba Bể chúng tôi tham quan dọc theo Hồ 1, Hồ 2 và Hồ 3 tham quan động Puông bí ẩn, thác Đầu Đẳng kỳ vĩ, thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá. Thích nhất là đi du thuyền thăm hồ Ba Bể, hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi đi thăm đảo An Mã, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên trước khi dùng bữa tối & nghỉ đêm tại Ba Bể.

đảo Pò Gia Mải (đảo Bà Goá)

Sáng ngày thứ 8, dùng điểm tâm tại khách sạn, trả phòng, tới Cao Bằng khởi hành đi Cao Bằng theo quốc lộ 3. Qua 250km, chúng tôi TX Cao Bằng

Chiều: Đi thăm khu du lịch thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam nằm ở địa phận xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn . Thác Bản Giốc là thác đẹp thuộc hàng đệ nhất danh thác Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới VN và Trung Quốc, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km, theo tỉnh lộ 206 về phía bắc.Điều thú vị trong chặng đường gần 400 km từ Hà Nội lên tới thác Bản Giốc, là du khách có thể tha hồ ngắm cảnh đẹp. Qua cửa kính xe ô tô, núi rừng hùng vĩ xen kẽ trùng trùng điệp điệp nối vào nhau. Những cánh đồng ngát xanh, vạt hoa dại bên đường, nếp nhà yên bình nép mình bên núi, bầy trâu lọt thỏm giữa cánh đồng làm nao lòng du khách.

Thác Bản Giốc nằm trong dòng chảy sông Quây Sơn, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua biên giới hai nước VN và Trung Quốc, uốn lượn quanh chân núi Cô Muông, qua những cánh đồng thuộc địa phận Đàm Thủy. Gần cuối dòng chảy, dòng sông Quây Sơn đổ từ độ cao hơn 30 mét xuống dưới chân núi tạo thành dòng thác hùng vĩ, sủi bọt trắng xóa. Thác Bản Giốc được chia làm hai phần, phía nam là thác cao, phía bắc là thác thấp. Thác thấp là thác chính, hùng vĩ hơn, tiệp mình vào núi rừng rộng lớn nay đã thuộc TQ. Hôm chúng tôi đến, nhìn từ xa, dòng nước chảy từ trên cao xuống tựa những sợi tơ trắng xóa đang nằm vắt vẻo uyển chuyển trên núi rừng hoang sơ. Nước sủi tung bọt, ầm vang. Ánh nắng hắt trên nước, lấp lánh sáng. Vẻ đẹp, sự thuần khiết, hùng vĩ hòa quyện vào nhau.

Dòng sông dưới chân thác khá phẳng lặng, có thể đi thuyền tham quan. Ở đây có dịch vụ chèo thuyền đưa khách tham quan toàn bộ thác Bản Giốc và những cánh rừng, đồng ruộng bên bờ Quây Sơn. Cuối chiều, mặt trời xuống, ngắm nhìn thác nước tuôn trào, cảm giác thật lạ. Gió biên cương thổi lành lạnh, nhìn mặt sông xanh ngắt, lại ngước lên nhìn dòng nước tuôn trào, tựa như phun ra từ núi, đủ khiến niềm xúc cảm không tên trong lòng trỗi dậy.

Ở Bản Giốc, đến nay vẫn chưa phát triển dịch vụ ăn, ngủ cho khách du lịch. Vì vậy, chiều buông, chúng tôi phải lên xe về lại thị trấn Trùng Khánh tìm chỗ nghỉ ngơi. Nhưng không vì trở ngại nhỏ đó mà du khách phiền lòng. Bởi, chính sự hoang sơ nơi ngọn thác biên cương là điều làm người ta thấy thú vị.

rả phòng rồi khởi hành đi qua 200km để tham quan Pác Bó có nghĩa là “đầu nguồn” theo tiếng bản địa. Nơi đây được coi là cội nguồn của Cách mạng Việt Nam bởi địa danh này gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và cách mạng nước ta những năm 1941-1945, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi của Hồ Chí Minh lúc đó) đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Sáng ngày thứ 9, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi t khu di tích Pắc Bó – nơi ở và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến từ 1941 đến 1945. Quốc Từ thị xã Cao Bằng đi tiếp 52km đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng du khách có thể tới thăm Khu di tích Pác Bó. đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng Tám năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập” – cơ quan truyên truyền của Mặt trận Việt Minh, thành lập đội du kích Pác Bó.

Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Quốc đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Quốc trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đầu tháng 12/1944, tại Nà Sác, Quốc đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 04/05/1945, Quốc rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 20/02/1961, Hồ chí Minh về thăm lại Pác Bó sau 20 năm xa cách.

Sáng ngày thứ 10, dùng điểm tâm tại khách sạn xong rồi đi thuyền tham quan Hồ Núi Cốc ; ăn trưa xong, chúng tôi khởi hành về Hà Nội.

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.

Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

– Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Hmông, Dao, Tày, Giáy… trong đó người Hmông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, còn lại là các dân tộc khác.

– Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất, Lào Cai được chia thành 8 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và thị xã Lào Cai.

– Ngày 7/5/1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

– Ngày 27/3/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 17/4/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

– Ngày 12/8/1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 10/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.

– Ngày 9/ 6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.

– Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

– Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.

– Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

– Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

Thắng cố là một món ăn của dân tộc Mông. Thắng cố biến âm của tiếng Thoảng, cố theo tiếng Mông có nghĩa là “nồi nước”. Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa, cách nấu cũng rất đơn giản. Thịt được ướp với muối, mỳ chính, thảo quả. Sau đó đổ thịt vào trong một cái chảo lớn, đảo đều cho miếng thịt săn lại thì đổ nước vào.

Bây giờ, thắng cố thường không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng có lẽ ngon nhất vẫn là thịt bò. Khi con vật được giết mổ, rửa sạch và để riêng từng bộ phận, lấy xương chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịt chín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào.

Ta có thể thấy niềm vui, sự đam mê, sự trân trọng cội nguồn của từng người Mông khi nấu món thắng cố. Họ cẩn thận ướp gia vị cho từng miếng thịt thơm đậm đà, múc từng muỗng bọt cho nồi nước thêm trong. Nồi thắng cố to sôi lục bục nổi lên những tảng mỡ to màu vàng nhạt điểm xuyến bằng những lá hành xanh ngắt, mùi thơm của thịt, của thảo quả, địa điềm quyện lại khiến ta có cảm giác chìm đắm trong tinh hoa thiên nhiên của đất trời ban tặng.

Vào quán gọi món thắng cố, ít phút sau thắng cố được mang lên. Đó là một cái nồi lẩu, như mọi cái nồi lẩu khác. Nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút, chỉ cần ngửi mùi thôi là cảm giác thèm ăn trỗi dậy.

Chai rượu được rót ra. Đây là rượu nấu bằng gạo, nhưng không phải là thứ men như ở dưới xuôi. Nó trong vắt, thơm ngái một chất lá và được giới thiệu là uống không bao giờ đau đầu.

Lượt thứ nhất lách cách cụng, dốc ngược đáy chén. Rồi những đôi đũa thay nhau lật tìm trong nồi lẩu ăm ắp. Đây là miếng dạ dày, đây là miếng ruột non, đây là miếng tiết, đây là miếng gan… Còn đây miếng cật, miếng tim, miếng vai… Tất cả được thái nhỏ, vừa gắp. Đúng là có mùi là lạ, đặc trưng, nhưng ăn được ngay, thấy ngon được ngay. Lại thêm bát tương, thìa gia vị, miếng chanh, lát ớt, đĩa rau thơm, rổ rau cải… Cái món thắng cố xa lạ đã thành gần gũi. Rượu cứ thế rót ra nhộn nhịp, thôi thì đủ lý do để dốc ngược chén cùng nhau. Uống rồi bắt tay, bắt tay thật chặt. Người ta bảo uống rượu Tây Bắc là uống mỏi tay.

Vào một ngày đông lạnh giá còn gì thú vị hơn là ngồi ăn một tô thắng cố nóng hổi, nhấm chén rượu ngô nóng, hàn huyên cùng bạn bè. Đây cũng là một nét văn hoá rất điển hình trong phong cách sống của người Mông.

Du khách đến Tây Bắc, lên những dãy núi hùng vĩ, ngồi bên hồ nước trong vắt và trong những niềm vui giản dị đơn sơ là bát thắng cố và rượu ngô nóng. Mùi thơm ấy, hương vị đậm đà quyến rũ ấy có lẽ sẽ không bao giờ quên được, nó sẽ đọng lại trong mỗi người khách khi đặt chân lên vùng đất đẹp và hiền hoà này.

Làng Cát Cát thuộc huyện Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa-Pa 2km.

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống

Bản Cát Cát trong sương sớm

Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng… Kiến trúc nhà cửa của đồng bào nơi đây còn nhiều nét cổ như nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu hay bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang…

Làng Cát Cát có 100% đồng bào dân tộc Mông với nghề thủ công truyền thống là nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

Trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm –

sản phẩm thủ công truyền thống của bản Cát Cát

Một điều hấp dẫn nữa của làng Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ hay các lễ hội được tổ chức vào các thời điểm đầu xuân hoặc tháng cuối hè và mùa thu. Tuy chỉ có quy mô nhỏ và diễn ra trong phạm vi của làngvới các nghi lễ cúng “thổ ty” – “thổ địa” – những vị thần được thờ là những người có công lập làng nhưng mang đậm nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng độc đáo của dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam.

Tôi cũng có dịp tìm hiểu về các món ăn độc đáo của dân tộc Mông. Người Mông ở Cát Cát có rất nhiều món ăn với cách chế biến phong phú độc đáo: rượu ngô Mông, thắng cố, thịt hun khói “khăng gai”, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, món đậu xị…

Cát Cát là điểm du lịch tìm hiểu văn hóa người dân tộc gắn với thiên nhiên hoang sơ, một địa chỉ thích hợp cho những khách du lịch đã mệt mỏi với đời sống đô thị.

đi qua cầu treo tới thăm thuỷ điện cũ của người Pháp. thác Cát Cátt nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn

Chiều: chúng tôi đi mua sắm đồ lưu niệm tại chợ Sapa, khám phá thị trấn Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi chơi quanh thị trấn Sapa, tham gia phiên chợ vùng cao cùng đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, mua sắm các mặt hàng lưu niệm tại chợ Sapa, ăn trưa tại nhà hàng địa phương trước khi làm thủ tục trả phòng và trở lại thành phố Lào Cai. Chúng tôi ghé ăn trưa và mua sắm tại Chợ Mậu Biên Cốc Lếu. Ăn tối tại nhà hàng thành phố Lào Cai trước khi đáp chuyến tàu về Hà Nội. Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến đi từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn

Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là Đông Bắc để phân biệt với vùng Tây Bắc, còn thực chấ vùng Việt Bắc. Vùng Đông Bắc là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng). Đôi khi vùng Đông Bắc bao gồm cả Đồng bằng sông Hồng.

Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.

Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000-1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.

Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.

Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là “vùng trung du”. Độ cao của phần này chừng 100-150 m.

Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…

Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

Nhà thờ đá Sa Pa

Lịch sử

Cơ sở lục địa của miền Đông Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền Đông Bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.

Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0 °C và có mưa tuyết thậm chí tuyết. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Phá đường” từng nhắc đến cái rét ở đây: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”.

Phạm vi hành chính

Sắc tộc và văn hóa

Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như “Hà Giang quê hương tôi” và còn rất nhiều bài hát khác.

Vùng Đông Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Đông Bắc do Quân khu 1 bảo vệ.

Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở : Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v… Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v… Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc.

vườn Quốc gia Ba Bể (cách Hà Nội khoảng 250 km), thăm Bến Chòi.

Đến với Ba Bể, du khách có dịp du ngoạn trên hồ bằng thuyền độc mộc để cảm nhận và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên với Động Puông, Ao Tiên, Thác đầu Đẳng, Bản Pác Ngòi, tìm hiểu cuộc sống, văn hoá cũng như tập quán của các bản làng dân tộc sống trên triền núi bên hồ.

Thác Bản Giốc – Một trong những dòng thác hùng vĩ nhất Việt Nam tại biên giới Việt – Trung, thăm động Ngườm Ngao.

Ngày 04: Cao Bằng – Lạng Sơn – Hà Nội (Ăn sáng,trưa)

11h00: Đến Lạng Sơn quý khách dùng cơm trưa tại nhà hàng. Chiều mua sắm tại chợ Đông Kinh. 15h00: Xe đưa quý khách về Hà Nội, dừng chân tại Thị Trấn mẹt nghỉ nghơi, mua các sản vật địa phương.

19:00 Về đến Hà Nội. Chia tay quý khách. Kết thúc chương trình.

Đường lên Đồng Văn uốn lượn, điệp trùng với đá và đá

Thắng cố – món ăn truyền thống của người dân tộc tại chợ phiên Đồng Văn

Một ngôi nhà cổ tại Đồng Văn, được xây bằng tường trình – là đất nện theo khuôn – giúp cho đông ấm, hè mát

Có được tour “đi núi, về sông” ấy là nhờ từ đầu 2008, khi cửa đập thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) đóng lại, mực nước khu vực lòng hồ dâng lên giúp thông suốt tuyến đường nối huyện Bắc Mê (Hà Giang) với Na Hang theo sông Gâm và nối với hồ Ba Bể qua sông Năng.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng – cực Bắc của tổ quốc – với lá cờ có diện tích 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Để leo lên đến nơi, bạn phải trèo qua 283 bậc thang

Vì thế tuyến đường thủy Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Kạn được kéo lại gần. Một công ty lữ hành phía Nam đã phát hiện ra hành trình này, sau nhiều lần thử nghiệm, quyết định đưa vào khai thác tour từ cuối năm 2010.

Dòng Nho Quế uốn lượn quanh các vách núi dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng

Bắt đầu hành trình vượt sông Gâm, sông Năng vào hồ Ba Bể

Núi đã vôi trên sông Gâm, cảnh đẹp không khác vịnh Hạ Long

Những gốc cây còn sót lại của khu rừng nguyên sinh bị dòng sông vùi lấp

Nếu sông Lô lững lờ lượn dọc con đường lên với Đồng Văn, sông Nho Quế như dải lụa vắt ngang những dãy núi dựng đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, thì sông Gâm, sông Năng… hoang sơ, bình yên đến kỳ lạ. Đó là nhờ dòng sông ấy nằm lọt giữa khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bu.

Một ngôi chùa trầm mặc giữa lòng sông

Tàu chở khách cứ thế lướt nhẹ giữa hai bờ là núi đã vôi ẩn hiện. Lấp ló đâu đó vài chiếc thuyền buông lưới. Một vài gốc cây khô trơ trọi đột ngột hiện trên mặt nước như tiếc nuối cái thuở còn là nguyên sinh, nay đã bị sông vùi lấp. Một đàn trâu thơ thẩn gặp cỏ ven sông… Trong khung cảnh thơ mộng ấy, muộn phiền của cuộc sống thường nhật tan biến.

【#9】Pasta Là Gì? Cách Phân Loại Và Chế Biến Pasta Đúng Chuẩn

Pasta là một loại mì sợi và là nguyên liệu cần thiết trong các món ăn truyền thống của Ý, thường có dạng sợi hoặc nhiều hình dạng khác nhau như xoắn ốc, vỏ sò, bướm…

Các tài liệu tham khảo đầu tiên ghi chép về Pasta có từ năm 1154, tổng cộng có hơn 310 loại với 1.300 tên gọi. Đây là một con số rất “khủng” và sẽ rất khó để chúng ta có thể tìm hiểu và ghi nhớ tất cả. Vậy nên, bài viết này sẽ giới thiệu đến bạn cách phân loại cũng như một số loại Pasta quen thuộc được nhiều người ưa chuộng.

Cách phân loại Pasta

    Dạng sợi: Pasta dạng này có bề rộng, độ xoăn và màu sắc khác nhau nhưng nhìn chung đều có dạng sợi dài, khi ăn, thực khách sẽ dùng nĩa và xoay nhẹ để cuộn mì lại, thường ăn kèm với nước xốt từ dầu oliu, xốt kem hoặc cà chua. Một số loại mì dạng sợi phổ biến là Spaghetti, Capellini, Fusilli Lunghi,…
  • Dạng ống: Có bề rộng, độ xoăn và màu sắc khác nhau, sợi mì có thể trơn hoặc lượn gân, đầu vạt tròn hoặc vạt chéo. Pasta ống được ăn kèm với các loại nước xốt đặc sệt, thích hợp để chế biến các món ăn đút lò. Macaroni, Penne, Rigatoni,… là những loại mì dạng ống được nhiều người yêu thích.
  • Dạng đặc biệt: Có hình dạng phong phú và đặc trưng cho từng vùng. Pasta loại này có thể làm Salad, súp hoặc ăn kèm với nước xốt. Nước xốt để ăn cũng có phần cầu kỳ hơn như nước xốt bơ, đậu Hà Lan và thịt giăm bông nấu chín hoặc nước xốt kem và cá hồi, nước xốt pho mát với một ít nghệ tây hoặc cà ri… Có thể kể đến một số loại mì dạng đặc biệt gồm Farfalle, Rote, Conchiglie,…
  • Dạng có nhân: Có thể có hình tròn, hình vuông, tam giác và có nhân bên trong nhưng loại này khá khó tìm ở Việt Nam. Ravioli, Gnocchi, Fattisu,… là một loại mì có nhân phổ biến.
  • Dạng bản lớn: Đây cũng là một loại mì khó tìm ở Việt Nam, bản lớn và thường dùng làm nền cho các món đút lò. Một số loại mì loại bản lớn như Lagsana, Blecs, Filindeu,…
  • Pasta Conchiglie có hình dạng vỏ sò – Ảnh: Internet Spaghetti là Pasta dạng sợi phổ biến – Ảnh: Internet

    Dựa vào hình dạng, Pasta bao gồm những loại cơ bản sau:

    • Các loại sợi nhỏ thì thường ăn chung với các loại nước sốt không quá đặc, vị nồng không cao lắm.
    • Các loại sợi to nên ăn cùng nước sốt đặc sánh.
    • Các loại không phải dạng sợi thì ăn chung với nước sốt có nhiều rau củ.
    • Các loại có dạng đặc biệt như vỏ sò, bướm,… thì nên dùng nước sốt đặc rưới đều lên để sốt thấm vào toàn bộ sợi mì

    Chế biến Pasta như thế nào?

    Với hàng trăm loại Pasta khác nhau cũng sẽ phát sinh hàng trăm cách chế biến cũng khác nhau, phụ thuộc vào từng loại và khẩu vị người dân từng vùng. Tuy nhiên, nhìn chung, cách chế biến Pasta được các Chuyên gia ẩm thực tóm tắt như sau:

    Đun sôi nước rồi mới cho mì vào. Trong khi luộc, bạn có thể nêm thêm ít muối và dầu ăn để các sợi không bị dính vào nhau. Thời gian để luộc cho vừa chín các loại nui, mì dày từ khoảng 12 -15 phút, còn với những loại nhỏ thì nên luộc trong khoảng 5 – 8 phút. Dạng tươi thì chỉ cần nấu 3 – 5 phút là được, không nên để mì chín quá mềm.

    Với các món Pasta dùng sốt hải sản, bạn nên luộc sao cho sợi Pasta vẫn còn hơi cứng bởi vì, sau đó, bạn sẽ nấu chung với sốt để nước sốt thấm vào sợi mì, nếu bạn luộc mì sợi quá chín thì khi đun cùng sốt, sợi mì sẽ bị bở, nát, không ngon.

    • Nấu cùng với pho mát và hạt tiêu hay tỏi, dầu.
    • Nấu với cà chua thịt bằm cùng nước xốt đặc biệt.
    • Nấu cùng cà chua và cá ngừ

    Sự khác nhau giữa Pasta và Spaghetti

    Theo như thông tin phía trên mà chúng tôi cung cấp thì các bạn cũng đã nhận ra Spaghetti và Pasta thực sự không khác nhau. Thực chất Spaghetti là một loại mỳ Pasta có dạng sợi tròn nhỏ, được làm từ bột Semolina và nước. Thứ đặc trưng nhất giúp phân biệt Spaghetti so với các loại Pasta khác đó là nhờ vào loại bột mỳ Semolina – được làm từ loại lúa mỳ cứng nhất có màu hổ phách. Tại Việt Nam, khi nhắc đến mì Ý, người ta sẽ nghĩ ngay đến Spaghetti chứng tỏ loại mỳ này cực kỳ nổi tiếng

    Cách chế biến Spaghetti cũng cực kỳ đa dạng như

    Dù chế biến với cách nào đi nữa thì Spagheti vẫn giữ được độ dai, mềm đặc trưng của mì đó là nguyên nhân mà loại mì này nổi tiếng trên toàn thế giới

    Đó là một số thông tin về Pasta là gì cũng như cách chế biến từ https://vieclamdaubep.vn mà bạn có thể tham khảo để hiểu hơn món ăn nổi tiếng này. Hiện nay, các món ăn từ Pasta được phục vụ khá nhiều tại các nhà hàng.

    【#10】Cách Chế Biến Các Món Ăn Đặc Biệt Làm Từ Mực

    Mực trứng chiên xù xốt thơm

    Ướp mực với ít muối, tiêu. Để vài phút cho mực ngấm gia vị.

    Xóc mực cùng với bột năng. Cũng có thể thay bột năng bằng bột chiên giòn.

    Cho dầu ngập ½ chảo. Chế biến món này cần phải có nhiều dầu. Dầu càng ngập, miếng mực chiên xong sẽ có độ xốp và giòn.

    Dầu sôi, cho mực vào chiên.

    Mực vàng, vớt ra để ráo dầu.

    Có thể dùng loại giấy thấm dầu thức ăn để làm ráo dầu.

    Để mực vào một cái dĩa ovale, để vài lá cải sà lát, vài miếng cà, vài lát dưa leo để trình bày cho đẹp mắt.

    Dọn chung với tương ớt hay tương xí muội.

    Thời gian chuẩn bị và chế biến khoảng 17 phút.

    Dành cho 3 người ăn.

    Nguyên liệu:

    – 400g mực

    – 1 trái ớt Đà Lạt

    – 2 trái ớt sừng đỏ

    – 1 củ hành tây

    – 1 ít lá quế

    – 4 thìa súp sa tế

    – 2 thìa súp tương hột

    – 1 thìa súp đường

    – 2 thìa súp dầu ăn

    Cách làm:

    1. Mực làm sạch, khứa mắt lưới, cắt miếng vừa ăn. Hành tây xắt dày theo chiều dọc. Ớt Đà Lạt, ớt sừng xắt khúc dài. Lá quế lặt rửa sạch.

    2. Cho dầu vào chảo chờ nóng, trút sa tế vào xào săn lại. Cho tiếp hành tây, ớt Đà Lạt và ớt đỏ vào, nêm đường, tương hột vừa ăn. Sau cùng cho lá quế vào, tắt bếp.

    Trút ra đĩa, dọn ăn kèm với cơm.

    Quan trọng là làm sao để lựa chọn được mực tươi. Cùng với những nguyên liệu không thể thiếu cho món mực xào chua ngọt như hành tây, cà chua, thìa là, cách tẩm ướp mực khéo léo cũng góp phần để món ăn thêm đậm đà, hấp dẫn. Mực xào chua ngọt dễ làm, dễ chế biến và cũng dễ ăn. Trước khi chế biến mực nên rửa sạch mực bằng nước muối để làm sạch các chất nhớt trên mình mực. Sau đó, thái mực thành từng miếng nhỏ, để ráo và tẩm ướp mực cùng với gia vị, ớt, hồ tiêu.

    Cách làm:

    Mực rửa sạch thái nhỏ, tẩm ướp gia vị. Hành tây, cà chua xắt thành miếng. Chiên mỡ nóng già thì cho mực vào xào. Xào mực gần chín thì cho hành tây, cà chua xào cùng. Để nhỏ lửa. Nếm thấy mực chín đều, hành tây chín tới thì xúc ra đĩa. Rắc vào ít hồ tiêu lên trên và trình bày thêm ít thìa là để món ăn hấp dẫn. Thịt mực dai, ngọt và đậm đà vị béo. Hành tây thì ngọt, thơm do quyện hòa những vị đặc biệt của mực. Mực xào chua ngọt ăn nóng với cơm hoặc các đồ nhậu.

    Lẩu Mực Nấu Nghêu

    VẬT LIỆU

    Nguyên vật liệu

    – Đầu mực: khoảng 4 con

    – Nghêu: khoảng 12 – 20 con

    – Cải thảo: 3 – 5 lá

    – Bó xôi: khoảng 1 bó nhỏ

    – Nấm rơm búp: 100gr

    – Đậu hũ: 1 miếng

    – Nước dùng: nấu từ xương gà hoặc heo

    – ớt đỏ: 2 trái

    – Hành poarô (tỏi tây): 100gr

    – Tương ớt: 2 muỗng canh

    – Gia vị: muối, nước mắm, đường, bột ngọt, dầu ăn, tỏi.

    CÁCH LÀM

    Cách chế biến

    – Đầu mực: làm sạnh cắt ra từng khúc

    – Cải thảo: để nguyên lá trụng sơ cho mềm

    – Bó xôi: bó gốc, rửa sạch, để bó xôi lên lá cải thảo đã trụng, cuốn tròn lại và cắt ra từng khúc vừa ăn.

    – Đậu hũ: cắt miếng vuông vừa ăn

    – Hành poarô: rửa sạch cắt từng khúc xéo.

    – Nấm rơm: làm sạch, bóp muối, ngâm sơ bột mì khoảng 30 phút, sau đó vớt ra đem luộc.

    – ớt đỏ: cắt xéo.

    – Đầu mực: cắt khúc xào sơ với một ít tỏi và tương ớt.

    – Nghêu: trụng sơ qua nước sôi cho hé miệng.

    Sau đó, sắp thứ tự từng loại vào lẩu hoặc vào nồi, chú ý sắp xen kẽ các thức ăn để tạo màu sắc, không xếp chồng chất lên nhau. Nấu nước dùng bằng xương gà hoặc xương heo, nêm cho vừa ăn chế vào lẩu, đậy nắp lại. Trước khi ăn đun sôi dùng với mì, bún hoặc cơm.

    Tuỳ theo sở thích, có thể nêm nước dùng hơi cay. Nếu chi phí đi chợ rộng rãi hơn, bạn có thể mua thêm con mực để nấu.

    Bí quyết nấu lẩu mực ngon

    – Khi chọn mực, lưu ý mực có 3 loại là mực nang (mập tròn và vỏ dày, da cứng, thích hợp làm các món tươi sống hoặc món gỏi), mực ống (ốm và tròn dài, mình mỏng, dùng làm mực nhồi ngon nhất) và mực lá (ngắn hơn mực ống, dài hơn mực nang, làm các mon chiên ngon nhất). Chọn mực đúng loại sẽ giúp món ăn ngon hơn.

    – Khi làm mực, nên để vừa chín, không nên để lâu, dai. Mực tẩm bột chiên trong dầu sôi chỉ để khoảng 5 – 10 phút, trong nước sôi nên nhúng.

    – Khi ướp hải sản, đừng nên cho nhiều muối, dễ bị mặn.

    – Nấu lẩu hải sản ngon cần làm dậy lên mùi đặc biệt của biển bằng cách cho một ít xương cá vào nấu trong nước dùng. Để át mùi tanh, nước dùng nên có vị thơm cay. Với nhiều kiểu và nhiều cách nấu khác nhau, nhưng tạo mùi thơm kích thích ăn ngon chủ yếu cho lẩu vẫn là loại thảo mộc như sả, riềng, lá chanh…

    Cách làm Mực mua về rửa sạch, thái ngang thân tạo thành những miếng vòng tròn.Ướp mực với 1 thìa bột canh, để vài phút cho ngấmLấy 3 cái bát, 1 bát đập trứng vào đánh đều, 1 bát đựng bột chiên và 1 bát đựng bột cà mỳ.

    Vụn bánh mỳ hoặc bột cà mỳ

    2 quả trứng

    Bột chiên

    Bột canh

    – Mực mua về rửa sạch, thái ngang thân tạo thành những miếng vòng tròn. Cách làm

    – Ướp mực với 1 thìa bột canh, để vài phút cho ngấm

    – Lấy 3 cái bát, 1 bát đập trứng vào đánh đều, 1 bát đựng bột chiên và 1 bát đựng bột cà mỳ.

    – Tiếp theo gắp từng miếng mực tẩm vào bột chiên, rồi đến bát bát trứng và cuối cùng là lăn mực vào bột cà mỳ.

    – Đặt chảo lên bếp, cho ½ chảo dầu, đun nóng rồi cho lần lượt từng miếng mực vào rán.

    – Không nên để lửa quá to mực sẽ cháy. Rán mực chín vàng đều là được, không cần chiên quá kỹ.

    – Mực chín vớt ra để ráo

    – Ăn kèm salad hoặc một vài loại rau củ thanh mát làm bạn bớt cảm giác háo nước khi ăn món rán.

    – Thưởng thức mực với nước sốt cà chua hoặc nước chấm chua ngọt đều rất hợp vị.

    Trịnh Thanh Phương @ 11:21 23/11/2010

    Số lượt xem: 231