【1/2021】Cách Chế Biến Vây Cá Mập Ngâm Rượu Làm Thuốc Tác Dụng Tuyệt Vời【Xem 316,602】

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Uống Sụn Vi Cá Mập Phát Huy Tối Đa Tác Dụng Hiệu Quả
  • Cách Nấu Vịt Om Sấu Cho Bữa Cuối Tuần Vừa Ngon Vừa Mát
  • Cách Làm Vịt Om Sấu Hà Nội Đơn Giản Ăn Với Bún Ngon Tuyệt
  • 2 Cách Nấu Món Vịt Om Sấu Cực Ngon Ăn Cùng Cơm Nóng Cả Nhà Thích Mê
  • Cách Làm Vịt Om Sấu Miền Bắc Cực Ngon Tại Nhà
  • Vây cá mập ngâm rượu là bài thuốc được nhiều khách ưa chuộng giống như cá ngựa ngâm rượu hay đông trùng hạ thảo, v.v.. sở dĩ khách kết loại biệt dược lẫn thực phẩm cao cấp này vì chúng có nhiều chất bổ dưỡng, được vua chúa ngày trước và danh y xem như là thần dược giúp chữa các chứng bệnh về xương khớp, giúp làm sáng mắt, thải độc, bồi bổ gân cốt…

    Vi cá mập dạng đã làm sạch dùng ngâm rượu

    Các tác dụng chữa bệnh của vây cá mập:

    Chất chondroitin sulfat trong vi cá mập ức chế được hoạt chất angiogenesis (angiogenesis kích thích quá trình tạo sinh tân mạch, làm các khối u ung thư phát triển rất nhanh) nên chondroitin ức chế sự tăng trưởng của các khối u ung thư.

    Chondroitin sulfat có tác dụng tạo độ nhớt thích hợp và bồi bổ nội mô giác mạc, nuôi dưỡng các tế bào giác mạc mắt, tái tạo lớp phím nước mắt trước giác mạc chống tình trạng khô mắt, duy trì độ trong suốt của thủy tinh thể và giác mạc mắt, tăng cường tính đàn hồi của thấu kính và thể mi khi mắt điều tiết nên hạn chế sự khô mắt, mỏi mắt, hoa mắt khi mắt làm việc quá nhiều. Chondroitin sulfat còn được dùng trong điều trị bệnh thoái hóa võng mạc mắt do tiểu đường. Chondroitin là nguyên liệu chủ yếu trong quá trình tái tạo mô sụn và xương, nó ức chế enzym elastase (là chất trung gian gây thoái hóa sụn khớp), kích thích quá trình tổng hợp các proteoglycan nên được dùng bổ trợ trong các chứng hư và thoái hóa khớp. Chondroitin sulfat được xem là chế phẩm bổ sung dinh dưỡng; nó cũng được nhiều bác sĩ chuyên khoa phối hợp với glucosamin sulfat (một hợp chất thiên nhiên có nhiều trong Tổ yến sào,…) dùng vào điều trị viêm xương khớp.

    Cách ngâm rượu vây cá mập đúng cách:

    Cách ngâm rượu vây cá mập

    Vi cá mập giá bao nhiêu tiền 1 kg?

    Giá vây cá mập bao nhiêu

    + Cước vi cá mập loại 1 (đã qua sơ chế, còn nguyên vây) 100gram : 1,990,000 vnđ

    + Cước vi cá mập loại 2 ( dạng rời) 100gram : 1,490,000 vnđ

    + Vi cá mập khô chưa làm sạch : 9.900.000 vnđ/kg

    + Vi cá mập tươi chưa làm sạch bảo quản lạnh : 1.290.000 vnđ/kg

    + Vi cá mập tươi làm sạch bảo quản lạnh : 6.900.000 vnđ/kg

    Nếu bạn muốn mua vây cá mập ngâm rượu và uy tín, hãy liên hệ ngay đến số điện thoại sau để được tư vấn miễn phí và đặt hàng: 0913.433.587 (Mr. Thành) / 0903.732.293 (Ms. Hiền). Đối với sản phẩm Vây cá mập dùng để ngâm rượu, chúng tôi có vận chuyển hàng đi khắp cả nước. Quý khách hàng có thể yên tâm và đặt hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Món Vây Cá Hồi Chiên Giòn Ngon Miệng, Giòn Béo Cho Mỗi Bữa Ăn Gia Đình
  • Cách Làm Vịt Nấu Chao Thơm Ngon, Hấp Dẫn
  • Cách Làm Vịt Nấu Chao Với Bí Quyết Riêng Đậm Đà, Hấp Dẫn
  • Học Cách Nấu Lẩu Vịt Nấu Chao Đậm Đà Hương Vị Miền Tây
  • Cách Làm Lẩu Vịt Nấu Chao Chuẩn Vị Cần Thơ Ngon
  • Top 66 Cách Chế Biến Thịt Ngựa Ngon Đổi Món Cho Bữa Cơm Hằng Ngày

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơm Tối Lôi Cuốn Với Thịt Heo Quay Kho Nước Tương Đậm Đà
  • Hướng Dẫn Nấu Thịt Kho Sung Ngon Ngất Ngây Thơm Lừng Góc Bếp
  • Cách Làm Thịt Kho Sung Chan Chát Lạ Miệng Dễ Nghiện
  • Cách Làm Thịt Ba Chỉ Kho Su Hào
  • Cách Làm Bún Thịt Luộc Sấu Kho Thơm Ngon Miễn Chê
  • Cách chế biến thịt ngựa rất đa dạng và phong phú dù thịt ngựa không phải là thực phẩm thường xuyên xuất hiện trong bữa ăn của người Việt xưa nay. Tuy nhiên, đây là loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe, hương vị lại khá thơm ngon, hấp dẫn. Do đó, nhiều chị em nội trợ hiện đại đã và đang tìm hiểu để đưa món thịt ngựa vào thực đơn hàng ngày của gia đình mình.

    Thịt ngựa có nhiều thành phần dinh dưỡng như nhiều chất đạm, ít chất béo và ít cholesterol. Theo Đông y, thịt ngựa có vị ngọt, tính hơi hàn, dùng để bồi bổ khí huyết, bổ thận tráng dương, tăng cường gân cốt rất tốt.

    Thịt ngựa có thể dùng để làm nhiều món như hầm, nấu, xào, nướng, làm chả,…Một số cách chế biến thịt ngựa thường được ưu tiên sử dụng bao gồm:

    Thịt ngựa xào

    Có thể nói món thịt ngựa xào là món đơn giản và dễ làm nhất từ thịt ngựa. Nguyên liệu xào cùng cũng rất đa dạng, dễ kiếm. Chị em có thể thử một số món xào thịt ngựa như:

    • Thịt ngựa xào rau củ
    • Thịt ngựa xào rau cải
    • Thịt ngựa xào rau muống
    • Thịt ngựa xào rau cần
    • Thịt ngựa xào hành tỏi
    • Thịt ngựa xào lăn
    • Thịt ngựa xào măng chua, măng trúc
    • Thịt ngựa xào lá lốt
    • Thịt ngựa xào rau răm
    • Thịt ngựa xào rau ngổ
    • Thịt ngựa xào sả ớt

    Với mỗi một món thịt ngựa xào, chị em chỉ tốn khoảng 15 đến 20 phút là đã có thể hoàn thiện món ăn, trình bày trong mâm cơm để cả gia đình thưởng thức.

    Thịt ngựa nướng – một trong những cách chế biến thịt ngựa

    Với những tín đồ đam mê đồ nướng thì hãy thử qua món thịt ngựa nướng. Hương thơm hấp dẫn từ những miếng thịt ngựa nướng xém xém quả thực rất hấp dẫn. Cuối tuần tụ tập bạn bè tự tổ chức một bữa thịt ngựa nướng tại nhà chắc chắn sẽ là lựa chọn không tồi.

    • Thịt ngựa nướng rau củ
    • Thịt vai ngựa nướng hành mỡ

    Vừa nhâm nhi một vài ly bia với đĩa thịt ngựa nướng, vừa trò chuyện với bạn bè, người thân về công việc, gia đình, cuộc sống chắc chắn sẽ là những trải nghiệm thú vị.

    Thịt ngựa hấp

    Thịt ngựa hấp cũng chỉ tốn khoảng 5 phút tẩm ướp gia vị, 10 phút hấp lồng là chị em đã hoàn thành xong một món ngon hấp dẫn lại bổ dưỡng.

    Cách chế biến thịt ngựa – Lẩu thịt ngựa

    Thịt ngựa bằm

    Thịt ngựa bằm cũng là món ăn mà nhiều chị em đã sử dụng trong bữa cơm gia đình mình. Món ăn này lạ miệng lại dễ ăn, giúp đổi khẩu vị cho cả các thành viên nhỏ tuổi trong gia đình. Một số món thịt ngựa bằm bao gồm:

    • Thịt ngựa bằm xúc bánh đa.
    • Ngựa bằm cuốn bánh tráng.

    Thịt ngựa hầm

    Món ăn bổ dưỡng này rất thích hợp dùng để bồi bổ khí huyết cho người ốm yếu, hư nhược cơ thể, gân cốt yếu kém. Người ta thường làm món:

    • Ngựa hầm nấm đùi gà.
    • Đuôi ngựa hầm thuốc bắc.

    Tùy vào sở thích và khẩu vị của người ăn mà chị em có thể linh động chế biến sao cho phù hợp.

    Dù với cách chế biến thịt ngựa như thế nào thì việc bảo quản thịt ngựa cho tươi ngon cũng đều rất quan trọng. Chị em cần lưu ý một số điều sau:

    • Khi làm món thịt ngựa băm, cần đem chế biến ngay bởi ở dạng này, thịt ngựa sẽ rất dễ bị nhiễm khuẩn. Nhất là khi chị em bảo quản không cẩn thận.
    • Thịt ngựa nên hạn chế cho vào tủ lạnh bởi để trong tủ lạnh sẽ khiến thịt ngựa bị khô do mất nước. Khi đem ra chế biến, món ăn sẽ không được thơm ngon.

    Ngoài ra, chị em cũng cần lưu ý các điểm nhỏ sau trong quá trình sử dụng thịt ngựa để nấu nướng:

    • Nếu không biết làm hoặc chưa có kinh nghiệm làm các món gỏi, tái chanh, bóp thấu…thì chị em không nên thực hiện các món này với thịt ngựa.
    • Có thể nấu thịt ngựa tương tự với các món như thịt bò, thịt bê để dễ chế biến.
    • Khi đã đun chảo nóng già thì mới cho thịt ngựa vào đảo. Như vậy, miếng thịt ngựa sẽ có một lớp thịt chín ở bề mặt, giúp cho nước, chất béo, glycogen trong thịt ít bị thoát ra ngoài, giữ lại hàm lượng dinh dưỡng cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Món Thịt Ngựa Xào Lá Lốt Ngon Khiến Thực Khách Thương Nhớ
  • Cách Làm Nước Hàng Thịt Kho Tàu Cực Ngon Không Cần Nước Dừa
  • Chưng Nước Hàng Đúng Cách: Bạn Đã Biết Chưa?
  • Cách Làm Nước Hàng Cho Món Thịt Cá Kho Lên Màu Vừa Đẹp Lại An Toàn
  • Cách Nấu Thịt Đông Ngon Cho Ngày Tết
  • Cách Chọn Mua, Bảo Quản Và Chế Biến Súp Lơ Xanh Dành Cho Bạn

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Làm Súp Lơ Xanh Xào Ngon, Bổ Dưỡng Cho Phụ Nữ
  • Cách Nấu Súp Thập Cẩm Đơn Giản Vừa Ngon Vừa Bổ Tại Nhà
  • Cách Nấu Canh Súp Lơ Trắng Với Thịt Bò Bằm Thơm Ngon Bổ Dưỡng
  • Cách Nấu Súp Lươn Ngon, Chuẩn Vị Nghệ An
  • Cách Nấu Món Súp Lơ Xào Thịt Bò Đơn Giản
  • Cách chọn mua súp lơ xanh

    – Để có thể mua được những bông súp lơ xanh tươi ngon thì trước hết, bạn cần chọn cho mình một địa điểm mua hàng uy tín, chất lượng.

    – Bông súp lơ xanh mà bạn chọn mua phải có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không sử dụng chất tăng trưởng hay bảo quản. Đồng thời, bông súp lơ xanh bạn mua phải có màu sắc tươi mới và thân vẫn còn cứng, săn chắc.

    – Ngoài ra, bạn nên tìm hiểu một vài cách nhận biết để chọn mua súp lơ xanh Đà Lạt thay vì mua nhầm súp lơ xanh Trung Quốc.

    Cách bảo quản súp lơ xanh

    – Sau khi đã chọn mua được những bông súp lơ xanh tươi ngon, an toàn cho sức khỏe thì khâu bảo quản chúng cũng khá quan trọng. Bông súp lơ xanh không nên được bảo quản quá lâu và nên được chế biến ngay sau khi mua để món ăn từ loại thực phẩm này có vị ngon, ngọt tự nhiên hơn.

    – Nếu bạn muốn bảo quản súp lơ xanh thêm vài ngày nữa thì hãy cho chúng vào một túi nilon kín, buộc kín miệng túi nilon và cho vào ngăn mát tủ lạnh để bảo quản.

    – Đến khi muốn sử dụng thì bạn chỉ cần lấy ra, rửa sạch và chế biến ngay. Tuy nhiên, bạn không nên bảo quản súp lơ xanh quá lâu sẽ làm mất chất dinh dưỡng của chúng.

    Chế biến súp lơ xanh thành nhiều món ngon

    – Loại thực phẩm này chứa cực kì nhiều chất xơ, vitamin cùng nhiều khoáng chất quý giá, thiết yếu cho cơ thể con người nên được sử dụng để chế biến thành nhiều món ăn ngon.

    – Với loại thực phẩm này thì sau khi qua khâu sơ chế, bạn có thể dùng để chế biến thành các món luộc, xào vì độ giòn, dai và ngọt tự nhiên của chúng.

    – Một vài gợi ý khi chế biến súp lơ xanh là bạn có thể xào chúng với bò, dầu ô liu hoặc tỏi… sẽ mang lại một món ăn thơm ngon, giàu dinh dưỡng cho gia đình bạn. Ngoài ra, bạn cũng có thể dùng súp lơ xanh để chế biến thành các món canh, món soup khi kết hợp với các nguyên liệu khác.

    Kinh nghiệm hay Bách Hóa XANH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nấu Súp Lơ Xanh: Các Món Ngon Từ Súp Lơ Xanh
  • Tổng Hợp Các Cách Chế Biến Súp Lơ Xanh Cho Bạn
  • Cách Làm Súp Kim Chi Thịt Heo Cay Nồng, Hấp Dẫn Không Thể Chối Từ
  • Cách Nấu Súp Kem Bí Đỏ
  • Cách Nấu Súp Hành Tây Ở Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Ngon Giải Nhiệt Cực Tốt

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Nấu Nước Sâm Đường Phèn Giải Khát, Thanh Nhiệt Cơ Thể
  • 【 Review 】5+ Cách Nấu Nước Sâm Đơn Giản Ngay Tại Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Lạnh Đơn Giản, Bổ Dưỡng
  • Công Thức Và Cách Nấu Nước Sâm
  • Cách Pha Chế Nước Ép Khổ Qua Nhân Sâm
  • Hay phải bổ sung thêm một ít rong biển để tận dụng muối thiên nhiên bổ sung cho natri và chất khoáng bị mất đi qua mồ hôi không?

    – Rễ tranh 1 bó nhỏ ( các mẹ có thể mua ở chợ hoặc vào tiệm thuốc bắc)

    – 15g rong biển (mua ở hàng khô ngoài chợ). Ngâm qua đêm vào nước vo để rửa sạch cát

    – Mía lau 2 khúc

    – 7 lá dứa thơm

    – 1 nắm râu ngô

    – Đường phèn

    Cứ thế mình cho tất cả các nguyên liệu trên vào xoong nấu lên 15 phút rồi cho đường phèn vào.

    Sau đó, mình để nguội rồi cho nước vào chai lọ… để trong ngăn mát tủ lạnh. Mỗi khi đi ra ngoài về, mình thường uống để giải nhiệt.

    Sâm bí đao là loại thức uống rất mát cho những ngày nắng nóng và cũng là 1 món cần chú ý với những chị em phụ nữ thích làm đẹp, bí đao có tác dụng giảm cân và làm đẹp da đồng thời hàm lượng vitamin trong bí đao cũng rất đáng để chúng ta quan tâm

    Các bước thực hiện

    Đợi nồi bí giảm nóng thì lược bỏ xác bí, lấy phần nước cho đường vào khuấy tan và cho vào tủ lạnh để uống dần. Để tủ lạnh có thể dùng đc 3 đến 5 ngày Nếu thích khi uống có thể cho thêm đá.

    Chia sẻ: Nếu thích nước sâm có màu đậm hay nhạt hơn thì có thể gia giảm thục địa tùy thích (nếu có tăng cũng tăng 1 – 2gr thôi, tăng nhiều thục địa nước sâm sẽ có vị hơi đắng nhẹ ko ngon nữa). Đường cũng thế, tùy khẩu vị từng gia đình mà gia giảm.

    Chưa đầy 30 phút và thật đơn giản bạn đã có thể tự làm món sâm bí đao mát lạnh thay đổi khẩu vị của những ly nước chanh, cam,…cho cả gia đình trong những ngày nắng nóng mà hoàn toàn yên tâm ko sợ hóa chất, chất bảo quản, đường hóa hoc….

    Nguyên liệu

    200 g rong biển ngâm trong nước cho sạch và thường xuyên dùng tay đảo nhẹ cho sạch cát, ngâm trong vòng 30 phút.

    100 g râu bắp rửa sạch

    100 g mã đề rửa sạch

    100 g đường phèn

    20 g bông ngò

    100 g lá dứa rửa sạch

    10 g hoa cúc khô

    1 trái la hán quả cho vào bao, đập nhuyễn

    3 – 4 lít nước lọc

    Thực hiện

    1. Cho từ 3 – 4 lít nước vào nồi đun sôi. Sau đó, cho rong biển và la hán quả vào đun sôi khoảng 20 phút nữa. Cho râu bắp vào đun sôi.

    Cho tiếp lá dứa, mã đề, vào đun sôi. Cho 10 g bông cúc vào nồi để thêm 10 phút rồi tắt bếp.

    2. Cho bông ngò đã cắt nhỏ và đường phèn vào một nồi khác. Lược hỗn hợp nước vừa nấu cho vào nồi đường phèn + bông ngò, quậy cho tan đường.

    Để khoảng 10 phút rồi lược lại lần nữa vớt hết bông ngò ra. Để nguội, chiết vào chai cho vào tủ lạnh.

    Mẹo vặt

    Món thức uống rong biển – hoa cúc có tác dụng thanh nhiệt, mát gan, dễ ngủ, ngừa bướu cổ, đẹp da và giải khát ngay tức thì.

    Đập la hán quả càng nhuyễn càng tốt vì để nguyên quả nấu, nước sẽ không thơm.

    Râu bắp và lá dứa sẽ khử được mùi tanh của rong biển.

    Ngâm hoa cúc quá lâu, nước mát sẽ bị đục và mau hỏng.

    Có nhiều cách để chúng ta chế biến và sử dụng nhân sâm, sau đây là một vài món ăn được chế biến với sâm giúp ta vừa ngon miệng vừa có một sức khoẻ tốt.

    Canh Nhân Sâm Hạt Sen

    Nguyên liệu: 3g nhân sâm, 30 hạt sen, đường phèn vừa đủ.

    Cách làm: đem nhân sâm bỏ vào bát nhỏ, đặt vào nồi hấp mềm rồi thái miếng mỏng. Lấy 10 hạt sen, bỏ vào bát đựng miếng nhân sâm, đổ nước vào ngâm, rồi cho nước đường phèn vào đậy nắp hấp cách thủy 1 giờ, ăn hạt sen, uống nước canh. Ngày hôm sau cho 10 hạt sen vào bát đựng miếng nhân sâm còn hôm trước, đổ thêm nước đường phèn vào đậy kín, hấp cách thủy 1 giờ, lấy ra ăn hạt sen uống nước canh. Ngày thứ ba cũng làm như vậy với 10 hạt sen còn lại.

    Nhân sâm có thể điều tiết chức năng của hệ thống thần kinh, chủ yếu là tăng cường quá trình hưng phấn ở vỏ ngoài đại não đối với hệ thống trung khu thần kinh, đồng thời cũng có thể tăng cường quá trình ức chế, từ đó cải thiện hoạt động linh hoạt của hệ thống thần kinh.

    Hạt sen và nhân sâm đều là đồ ăn ngon, đem hấp cùng đường phèn, tác dụng của nó càng rõ rệt hơn, có thể nâng cao hiệu suất công tác của những người lao động trí óc. Do hạt sen, nhân sâm có rất nhiều chất bổ, nên những người bị bệnh thấp nhiệt, nóng trong hoặc có ứ trệ bên trong cơ thể không nên ăn, người bị cảm chưa khỏe hẳn cũng không nên ăn.

    Cháo Nhân Sâm

    Nguyên liệu :Bột nhân sâm 3g, gạo tẻ 100g, đường phèn vừa đủ.

    Cách chế biến :

    Một loại thức ăn rất bổ dưỡng, thích hợp với người già yếu, có các chứng suy yếu khí huyết và tân dịch như ngũ tạng suy nhược, mỏi mệt hư tổn, ăn uống không ngon miệng, tâm hoảng, thở dốc, mất ngủ, hay quên, hoạt động sinh dục suy yếu.

    1. Vo sạch gạo, trộn với bột nhân sâm, cho vào nồi đất hoặc nồi nhôm, cho thêm đủ nước.

    2. Đun to lửa cho sôi, chuyển sang nhỏ lửa sắc cho tới lúc cháo chín.

    3. Cho đường phèn và nước vào một nồi khác, nấu thành nước đường đặc, rồi đổ từ từ vào cháo đã chín, khuấy đều thành cháo đường.

    4. Trong khi nấu cháo phải tránh dùng các dụng cụ bằng sắt.

    Cách dùng: Nên ăn lúc đói, hai bữa sáng tối trong mùa đông.

    Chú ý: Những người thể chất âm hư hỏa vượng hoặc người trung niên, người cao tuổi khỏe mạnh cường tráng không nên dùng, cũng không nên dùng trong mùa hè nóng nực. Khi ăn cháo nhân sâm, không được ăn củ cải và uống nước trà.

    Nhân Sâm Nấu Tôm

    Hương vị đậm đà, thơm mềm bổ dưỡng.

    Nguyên liệu:

    – 1 củ nhân sâm nước (nặng khoảng 1kg), 25g tương, 25g đường cát trắng, 5 g bột ngọt, 25g dầu hành, 25g bột bắp hòa nước, 10g rượu vang, 25g hành tím xắt lát, 150g nước thịt kho tàu.

    Cách làm:

    – Nhúng củ nhân sâm vào chảo đang sôi, vớt ra để ráo dầu. Chiết dầu dư trong chảo ra, chừa lại một ít, cho hành tím vào xào qua cho thơm, cho tiếp nước thịt kho tàu, rượu vang, đường cát trắng, tương, tôm và củ nhân sâm vào nấu trong 5 phút, rồi cho bột ngọt vào, nước bột bắp vào nấu cho đến khi sệt lại thì cho dầu hành vào, bắc chảo xuống bày món ăn ra dĩa.

    Yến sào nhân sâm gà ác táo đỏ (món ăn bổ khí – huyết, tốt nhất dành cho phụ nữ sau khi sanh)

    Một trong những món ăn tuyệt vời là yến sào nhân sâm, được chế biến như sau:

    Thành phần:

    * Yến sào: 10g

    * Gà ác nhỏ: 1 con

    * Táo đỏ: 10 trái

    * Nhân sâm: 20g

    * Trần bì: miếng nhỏ

    * Muối ăn: một ít

    Cách nấu:

    – Gà ác làm sạch lông. Rửa và ngâm táo tàu cho nở, bỏ hột. Trần bì rửa sạch, nhân sâm cắt lát mỏng.

    – Đổ vào nồi hai chén nước và cho tất cả vào chung chưng cách thuỷ khoảng hai giờ. Sau đó mới cho yến sào (đã được ngâm nước ngay từ khi làm bếp) vào tiếp tục chưng cách thuỷ thêm hai giờ nữa. Cuối cùng nêm ít muối vào cho vừa ăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Bạn Cách Nấu 5 Loại Nước Sâm Thanh Mát Giải Nhiệt Mùa Hè
  • Mách Bạn Cách Nấu 5 Loại Nước Sâm Thanh Nhiệt Cơ Thể
  • Cách Nấu Nước Sâm Lạnh (Nước Mát) Giải Khát Tại Nhà
  • Cách Nấu Nước Sâm Ngon Nhất Giúp Bạn Giải Nhiệt Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Nước Sâm Mía Lau Thơm Bổ Tại Nhà
  • Thực Đơn Và Cách Chế Biến Đồ Ăn Dặm Giai Đoạn 9 Tháng Tuổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Nấu Nui Cho Bé Trên 7 Tháng
  • Cách Nấu Cháo Cho Bé 11 Tháng Tuổi, Trị Chứng Biếng Ăn Cho Bé
  • Cách Làm Nui Xào Bò Giòn Ngon Ngọt, Giàu Dinh Dưỡng
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Nui Rau Củ Thơm Ngon Lạ Miệng Cho Bữa Cơm Chiều
  • Bán Thịt Dê Núi Ninh Bình Đóng Gói 2Kg Tại Hà Nội
  • Bé từ 9 tháng tuổi trở lên bắt đầu bước sang một giai đoạn ăn dặm mới, các bà mẹ cần lên thực đơn ăn dặm đầy đủ chất dinh dưỡng cho bé 1 cách hợp lý để cho bé luôn đầy đủ chất dinh dưỡng. Giai đoạn này, bé có thể ăn được hầu hết các loại rau. Có thể cho bé ăn cả phần cuống rau, nhưng mẹ nên cắt nhỏ để bé dễ nhai hơn.

    Một vài nguyên tắc vẫn phải nhắc lại để các mẹ lưu ý:

    – Để bé tự cầm/ xúc ăn. Cha mẹ chỉ nên hỗ trợ khi cần thiết.

    – Một điều các mẹ không bao giờ được phép quên đó là không được ép con ăn vì việc nấu nướng là của mẹ, còn ăn bao nhiêu là quyền của con.

    Mẹ Áo Hồng sẽ gợi ý cho các mẹ thực đơn và cách chế biến một số món ăn dặm cho bé giai đoạn 9 tháng tuổi.

    – Mỳ luộc chín mềm vừa độ bé ăn được. Cắt nhỏ hay để nguyên hoặc xay tùy khả năng ăn thô của các con.

    – 1 quả cà chua chín (khoảng 100g) cắt đôi, bóp bỏ hạt, thái hạt lựu. Cho 1 thìa cà phê dầu ăn vào nồi, cho cà chua vào. Bật lửa xào cho cà chua mềm mềm. Thêm chút nước cho cà chua chín mềm.

    – 2 con tôm nhỏ bóc vỏ, cắt hạt lựu hay băm nhỏ. Cho vào nồi cà chua đang sôi. Nêm thêm chút muối tùy thích.

    – Cho ra dĩa. Khi ăn dùng kéo cắt mỳ ngắn đi một chút cho bé dễ xúc.

    – 1 muỗng canh nui, 1/2 củ khoai tây vừa gọt vỏ, thái hạt lựu, 1 muỗng canh cà rốt thái hạt lựu, 1 muỗng canh đậu que cắt nhỏ, 1 muỗng canh thịt gà băm nhỏ. Ngò rí.

    – Cho khoảng 1/2 tô nước vào nồi nấu sôi lên, cho cà rốt, khoai tây (khoai tây cắt to hơn cà rốt), đậu que, nui vào nấu cho tất cả chín mềm. Cho thịt gà băm nhỏ vào, nấu sôi lên.

    Khi ăn cho thêm 1/2 thìa cà phê dầu ăn vào (dầu oliu hay dầu cải hay dầu hướng dương hay dầu mè, dầu hạnh nhân, dầu hạt óc chó…, hay bơ lạt, phô mai…

    Gợi ý: Thịt gà băm nhỏ, cho vào bát với chút nước khuấy đều để cho vào súp nấu không bị vón cục.

    3. Cơm canh bí đỏ nấu tôm

    – Một miếng bí đỏ vừa sức ăn của bé, 1-2 con tôm cỡ vừa.

    – Các nấu canh bí tôm: Bí cắt miếng vừa ăn cho vào nước nấu chín mềm. Cho ra chén và bớt lại 1 ít nước. Tôm bỏ vỏ, cắt ngắn, hoặc giã nhỏ. Cho vào canh nấu sôi lên cho chín. Thêm hành, ngò cắt nhỏ. Cho ra bát để bé thưởng thức cùng với cơm trắng nấu mềm.

    4. Cơm thịt bò, canh củ dền

    – Cách xào thịt bò với hành tây: 1 muỗng canh thịt bò băm nhỏ. Củ hành thái nhỏ, cho vào xào với chút dầu. Cho thịt bò vào, thêm chút nước cho mềm thịt.

    – Cách nấu canh củ dền, khoai tây, cà rốt: Cho nước vào nồi nấu sôi, thêm cà rốt cắt miếng nhỏ, khoai tây cắt to hơn, củ dền vào nấu cho chín.

    Canh củ dền ra nước rất ngọt nên không cần nêm nếm gì cũng ngon rồi. Nếu có thịt heo hay xương thì cho vào canh nấu chín cho thơm ngon hơn. Thêm hành, ngò cắt nhỏ cho món ăn thêm ngon.

    5. Bí ngòi xào tôm, cơm nấu cà rốt

    – Gạo vo sạch cho vào nồi nấu với cà rốt thái nhỏ.

    – Bí ngòi rửa sạch, cắt vừa. Cho khoảng 1 thìa cà phê bơ nhạt vào nồi cho nóng tan, cho bí vào xào thơm. Nhanh tay thêm nước vào nấu chín.

    – Tôm rửa sạch, bỏ vỏ rồi giã nát. Canh chín, cho tôm vào đảo đều. Tắt bếp, thêm ngò vào.

    Gợi ý: Với cách nấu canh tôm ngoài nấu với bí, mẹ có thể thay đổi với các loại rau củ khác: bí đỏ, bí xanh, bầu, mướp, rau xanh các loại. Tôm giã rất ngọt nên không cần nêm nếm gì vẫn ngon.

    6. Canh súp lơ xanh thịt băm ăn với cơm

    – Các nấu canh thịt băm, nấm: thịt heo băm nhuyễn với nấm, viên nhỏ nhỏ lại. Súp lơ xanh rửa sạch cho vào nồi với nước vừa đủ, nấu sôi lên và chờ cho súp lơ chín mềm. Cho thịt viên vào, nấu sôi lên cho thịt chín.

    – Cần tây và cà rốt mẹ có thể cho bé ăn sống hoặc luộc chín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Đơn Cho Bé Ăn Dặm Từ 8
  • Cách Làm Nui Xốt Bò Viên Thơm Ngon Khó Cưỡng
  • Giới Thiệu Các Loại Nui, Nui Nào Nấu Món Gì Là Ngon Nhất
  • Nui Xào Bò Rau Cải: 2 Cách Làm Đơn Giản, Cả Nhà Ăn “hết Veo” Chỉ Vài Phút
  • Cách Làm Nui Xào Trứng Ôi Thơm Ngon Tuyệt Vời
  • Cách Chế Biến Món Nướng Bằng Lò Vi Sóng Bluestone Đơn Giản Mà Ngon Tuyệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Nấu Ăn Bằng Lò Vi Sóng Siêu Dễ
  • Cách Nấu Các Món Ăn Dặm Ngon, Bổ Dưỡng Cho Bé Yêu Của Bạn
  • 30 Món Ăn Ngon Tự Nấu Tại Nhà, Thay Đổi Mỗi Ngày Sẽ Không Bị Ngán!
  • Cách Làm Các Món Ăn Ngon Mùa Thu
  • Bữa Ăn Ngon Với Cách Làm Cơm Cuộn Trứng Đơn Giản
  • Gợi ý cho 2 món nướng cuối tuần là Gà nướng và Khoai nướng bằng lò vi sóng Bluestone vừa đơn giản, dễ làm mà lại ngon tuyệt, thơm lừng.

    CÁCH LÀM MÓN GÀ NƯỚNG BẰNG LÒ VÌ SÓNG ĐƠN GIẢN MÀ THƠM NGON NHƯ MẸ LÀM

    Nguyên liệu và dụng cụ chế biến gà nướng bằng lò vi sóng.

    NGUYÊN LIỆU

    • Gà: 1 con (từ 1,5kg đến 2kg)
    • Mật ong: 3 đến 4 muỗng cà phê
    • Dầu hào: 2 đến 3 muỗng cà phê
    • Gia vị: nước mắm, dầu ăn, hạt nêm, ngũ vị hương, tiêu
    • Hành, tỏi, sả, ớt

    DỤNG CỤ

      Lò vi sóng Bluestone có chế độ grill (nướng).

    Bạn có thể chế biến nguyên liệu bao nhiêu cũng được, bạn có thể chuẩn bị phần thịt gà nhiều hơn, hoặc bạn chỉ lựa chọn phần thịt gà nào mà bạn thấy thích, ví dụ như thịt lườn, đùi gà, cánh gà,…

    Bước 1: Làm thịt gà

    Chọn thịt gà thì bạn nên chọn loại gà tơ không già quá cũng không non quá, để thịt gà khi nướng sẽ ngon nhất.

    Bạn tiến hành làm sạch, đầu tiên, rạch bụng để lấy hết phần nội tạng bên trong ra ngoài, bạn có thể giữ lại để làm món xào. Còn con gà, bạn rửa sạch bên trong bụng, dùng muối xát toàn thân con gà, vặt bỏ đi lông còn sót lại. Rửa sạch gà một lần nữa rồi để rổ cho ráo.

    Bạn có thể chặt thành 4 phần, hoặc để cả con nếu lò vi sóng của nhà bạn đủ chứa. Tiếp theo bạn dùng dao khía các đường nhỏ trên thân gà để gia vị dễ ngấm vào thân gà hơn, ngon hơn khi nướng.

    Bước 2: Sơ chế các nguyên liệu khác

    – Ớt rửa sạch, thái nhỏ

    – Tỏi bóc vỏ, rửa sạch rồi giã nhỏ

    – Hành bóc vỏ rồi thái nhỏ

    Sau đó để cho nguyên liệu được nhỏ, bạn dùng máy xay, xay cho nhuyễn hỗn hợp trên rồi để ra bát.

    Tiếp theo lấy bát nguyên liệu đã chuẩn bị ở bước trên, bạn cho 2 thìa cafe nước mắm, 2 thìa mật ong, 1 thìa cafe tiêu, 1 thìa bột ngọt và 1 thìa bột canh, 1 thìa cafe đường khuấy đều hỗn hợp lên với nhau để cho tan.

    Bước 3: Nướng gà

    Chúng ta tiến hành nướng bằng lò vi sóng nên bạn cần làm nóng lò trước 15 phút với nhiệt độ từ 180 độ C đến 200 độ C. Đặt gà vào khay rồi cho vào lò, nên để thêm một khay ở dưới để đựng phần nước từ gà chảy ra. Nướng gà trong khoảng thời gian 30-40 phút tùy từng loại gà mà chúng ta căn thời gian.

    Khi gà chín sẽ có màu vàng trông rất hấp dẫn,

    mang ra khỏi lò nướng và chặt thành miếng vừa ăn và thưởng thức ngay thôi.

    Khoai lang nướng là một trong những món ăn giàu năng lượng, cũng là món ăn vặt khoái khẩu của nhiều người. Thế nhưng không phải lúc nào bạn cũng có thời gian để nướng khoai trên lò than, vì vậy bạn có thể tham khảo cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng thơm ngon đúng chuẩn mà tiết kiệm thời gian vô cùng.

    Khoai lang là loại thực phẩm bình dân có chứa hàm lượng dưỡng chất cao, việc nướng bằng lò vi sóng giúp giữ lại được nhiều chất dinh dưỡng hơn so với cách nướng hay luộc thông thường. Hơn hết khoai lang được nướng trong lò vi sóng giúp khoai lang còn ngọt hơn do không tiếp xúc trực tiếp với nước mà tự chín bằng nước bên trong củ khoai.

    Nguyên liệu và dụng cụ nướng khoai lang bằng lò vi sóng

    • Vài củ khoai lang
    • Lò vi sóng Bluestone có chế độ nướng (Grill)

    Hướng dẫn cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng

    CÁCH 1

    Bước 1: Bạn hãy chọn những củ khoai lang có có kích thước vừa phải để lúc nướng tiết kiệm được thời gian. Sau đó, bạn rửa khoai lang cho sạch sẽ rồi để khô ráo, có thể cắt hai đầu khoai lang đi.

    Dùng tăm nhọn hoặc nĩa đâm xung quanh củ khoai lang, việc này giúp khoai khi nướng không bị nứt, khi nhiệt nóng lên khoai lang tập hợp hơi nước có trong nó, giúp nó chín đều và hơn hết là tránh khoai lang bị nổ trong lò.

    Bước 2: Tiếp theo xếp đều khoai lang lên vỉ nướng, cho vỉ nướng vào lò vi sóng, chọn chế độ Grill (nướng), để thời gian khoảng 10 phút. Tùy thuộc vào kích thước của khoai, loại khoai lang và công suất của lò vi sóng mà bạn điều chỉnh thời gian thích hợp.

    Bước 3: Sau 10 phút, lật khoai lại và nướng tiếp mặt dưới khoảng 10 phút.

    – Chọn công suất cao và để thời gian thêm 5 phútrồi lấy ra.

    Với khoai lang tím và khoai lang Nhật thì để lần 1 ở 8 phút, ở công suất trung bình. Lần 2 thì quay thêm 3-4 phút nữa.

    CÁCH 2

    Bước 1: Đầu tiên, bạn rửa sạch củ khoai lang cho hết đất cát bám quanh củ, rồi để ráo. Tiếp tục làm ẩm khoai lang, rồi dùng giấy báo/giấy ăn gói khoai lại, gói khoảng 2-3 lớp, nếu 1 lớp thì không đủ độ nhiệt giữ lại để làm chín khoai. Và hơn hết mục đích của việc này giúp giữ ẩm cho khoai lang, tạo cho nó có lớp vỏ mềm ẩm hơn.

    Bước 2: Sau đó bạn cho khoai lang đã được gói giấy báo kĩ lưỡng vào lò vi sóng, chỉnh chế độ nướng khoảng 5-8 phút. Tùy theo số lượng và khối lượng khoai lang mà bạn có thể tăng thời gian nướng lên. Quay đến khi chín, nếu chưa chín thì tiếp tục quay trong lò.

    Với 2 cách nướng khoai lang bằng lò vi sóng rất đơn giản và nhanh gọn như vậy, bạn sẽ luôn có khoai lang ngon lành để ăn mà không mất nhiều thời gian, lại còn giữ được hết các chất dinh dưỡng có trong khoai lang.

    Nên nướng đồ bằng lò vi sóng hay nướng bằng than?

    Cách nướng món ăn bằng than hay lò vi sóng thường dùng các nguyên liệu gia vị ướp như nhau. Tuy nhiên, phương pháp nướng bằng than tồn đọng nhiều nguy cơ đối với sức khỏe vì có nhiều khí độc sinh ra từ than, ô nhiễm môi trường… Thế nên, ngày nay, cách ướp gà nướng lò vi sóng được nhiều chị em chọn lựa với nhiều ưu điểm như tiết kiệm thời gian, công sức, hương vị vẫn thơm ngon không đổi. Lò vi sóng hiện đại có chức năng nướng thức ăn 2 lửa, nhờ đó, giúp thức ăn chín đều các mặt và lên màu hấp dẫn. Cách nướng bằng lò vi sóng giúp bạn chủ động kiểm soát được chế độ nhiệt, thời gian nướng để tránh làm thức ăn cháy, khét.. và đặc biệt nướng bằng cách này không gây nguy hại cho sức khỏe bởi các khí độc từ than.

    So với cách nướng truyền thống, nướng lò vi sóng đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều, hoàn toàn có thể thực hiện cho những bữa ăn bận rộn và không có nhiều thời gian chuẩn bị, mặc dù vậy vẫn đảm bảo cho gia đình và bạn bè mình bữa ăn ngon lành và chất lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Mứt Mận Cực Kỳ Ngon Và Đơn Giản
  • Lớp Học Nấu Các Món Vặt Chuyên Nghiệp
  • 19 Cách Thông Minh Để Ăn Uống Lành Mạnh Với Ngân Sách Hạn Chế
  • Mách Bạn Các Mẹo Nấu Ăn Ngon Mà Tiết Kiệm
  • Món Ngon Cho Bé 1 Tuổi: Phần 1
  • Đông Bắc & Tây Bắc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Mách Mẹ Cách Làm 15 Món Xôi Vừa Thơm Vừa Dẻo, Chồng Con Ăn Tấm Tắc Khen
  • Chia Sẻ Cách Nấu Xôi Vị Đơn Giản Cho Bữa Sáng Ngon Tuyệt.
  • Hướng Dẫn Cách Làm Xôi Vò Bằng Nồi Cơm Điện
  • Cách Nấu Xôi Vò Ngon Bằng Lò Vi Sóng Đơn Giản Nhất
  • Cách Nấu Xôi Vò Nhanh Chóng Với Lò Vi Sóng
  • Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn(Hà Giang), thác Bản Giốc và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), v.v…; những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng. Năm 2010, nhiều công ty du lịch VN đã tổ chức tour du lịch vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam.

    Tôi đã đi Hạ Long nhiều lần rồi nên kỳ này, tôi quyết định chỉ đi Sapa và vùng đông bắc & Tây Bắc Việt Nam. Năm nay (2011), giá tour trong nước tăng cao do nhiều nguyên nhân(điện + nước + xăng dầu tăng, vật giá tăng nên cái gì cũng tăng theo); thậm chí so với giá tour nước ngoài(như đi Thái Lan, Campuchia, Sing – Mã, etc…) thì bà con thà rủ nhau đi nước ngoài vẫn thích hơn; nhất là thái độ phục vụ. Từ Saigon, tôi bay ra Hà Nội và công ty du lịch đón tại sân bay rồi đưa đi Sơn La, qua Mộc Châu (đường quốc lộ 6: Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Lai Châu) và ghé ăn trưa tại

    Thị trấn Phù Yên. Nếu theo quốc lộ 37: Mai Sơn – Bắc Yên – Điện Biên – Phù Yên – Yên Bái, chúng ta sẽ đi Điện Biên hay Yên Bái.

    Trong những năm qua, khi du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thì ngành du lịch Sơn La cũng đã tổ chức nhiều tour ngắn ngày và đã tạo ra được sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước. Sau khi đến sân bay Nà Sản, du khách được đi tham quan những di tích lịch sử và những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đã được xếp hạng: Nhà ngục Sơn La, nơi giam giữ tù chính trị trong thời kỳ chống Pháp, hang bia ” Quế Lâm Ngự Chế” – bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440… Bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá thẳng đứng, dưới lòng hang rộng, có nhiều thạch nhũ mọc từ vòm hang buông xuống. Đây là những thắng cảnh kỳ vĩ do thiên nhiên và con người kiến tạo.

    Khi áng chiều đã trải dài bóng mỗi ngọn cây, nhuộm đỏ những dòng suối, những chiếc lá vàng trôi lững lờ hiền dịu, thanh bình, là lúc du khách có thể đi trên con đường trải nhựa lượn quanh các triền đồi trông như một dải lụa. Xa xa, những dải khói lam chiều nhẹ nhàng uốn mình theo triền núi. Cách trung tâm thị xã gần 5 km, điểm tham quan và thư giãn tại khu Suối nước nóng Bản Mòng hiện ra còn nguyên những nét đẹp hoang sơ, thuần khiết đầy quyến rũ.

    Trong những tour du lịch, bước chân của du khách sẽ đến với những địa danh, những khu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Khu Bảo Tàng tỉnh Sơn La nằm trên đồi Khau Cả đã lưu giữ hàng ngàn những hiện vật văn hóa đa dạng các dân tộc Sơn La, thăm những khu làng, bản văn hóa. Trên những nếp nhà sàn truyền thống, du khách có thể thưởng thức những món ăn đặc sản, hương vị mới lạ đậm đà, hấp dẫn như măng lay, cá nướng, cơm lam. Sau khi chiêm ngưỡng những danh thắng ở thị xã Sơn La, du khách có thể tiếp tục cuộc hành trình của mình để ngắm những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ như Hang Dơi, Thác Dải Yếm ở Mộc Châu và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu tiểu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè ngan ngát.

    Những du khách yêu thích du lịch sinh thái vùng cao sẽ có nhiều cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hoang sơ của những nhành phong lan rừng, những đỉnh núi cao mây vờn, những dòng suối nước trong veo và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân bản xứ. Hương vị thơm nồng của rượu cần hòa quyện cùng điệu xòe bên ánh lửa bập bùng sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng du khách. Mùa xuân về, hoa ban nở trắng càng tô thêm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc trên suốt cuộc hành trình về với Sơn La. Mời các bạn hãy đến thăm Sơn La.

    Chiều, chúng tôi t ới TP Sơn La. Sau khi nhận phòng và dùng bữa tối , chúng tôi TP Sơn La về đêm Sơn La cách bia văn của hoàng đế đi thăm qua và đi tắm suối khoáng nóng rồi mới về nghỉ đêm tại khách sạn. Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố háng 1 năm sau. Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ “Quế Lâm Ngự Chế” gồm 140 chữ Hán.Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12

    Những con đường rộng bình yên, những thiếu nữ dân tộc người Thái và Mường xúng xính trong váy áo với nhiều hoa văn làm say lòng khách lạ, làm tan đi cảm giác mỏi mệt sau một hành trình dài hơn 300km từ một bến xe của Hà Nội. Được xây dựng vào năm 1908, ban đầu chỉ là một nhà tù nhỏ cấp tỉnh với diện tích 500m 2, sau được thực dân Pháp mở rộng diện tích lên gấp ba lần, nhà ngục Sơn La nổi tiếng trong các nhà tù của thực dân Pháp là nhà tù thép, là nơi giam cầm, đầy ải và thủ tiêu ý chí đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam.Với những căn phòng tối bằng gạch và đá khá kiên cố, mái lợp tôn, mùa hè nơi đây tựa một lò nung và mùa đông thực sự là một chiếc tủ lạnh trong gió mùa biên ải khắc nghiệt.Giữa những bức tường nhà ngục đổ nát như là minh chứng cho những tội ác dã man của kẻ thù, tình cờ tôi đã gặp bác Trần Nguyên, một cán bộ thông tin của chiến trường miền Đông Nam Bộ, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lặn lội từ Quân khu 4 ra thăm. Ông ra thăm với mục đích duy nhất là muốn được nghe lại những câu chuyện cảm động về hoạt động của chi bộ đảng nhà tù Sơn La, đi thăm và cảm nhận về sự dã man của thực dân Pháp qua những chứng cứ lịch sử.

    Cô hướng dẫn viên xinh đẹp người Thái dẫn chúng tôi đi thăm các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại ba gian… Đến mỗi một địa danh, chúng tôi lại được nghe những câu chuyện cảm động về sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau nhằm tuyên truyền giác ngộ cách mạng trong và ngoài nhà tù, tổ chức đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân, tổ chức vượt ngục… của những cán bộ ưu tú của Đảng như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu….

    Cây đa bản Hẹo là địa điểm liên lạc bí mật giữa Trung ương Đảng với chi bộ nhà tù Sơn La. Từ địa điểm liên lạc này, Chi bộ nhà tù Sơn La nhận được sự chỉ đạo thường xuyên của Trung ương Đảng để tổ chức lãnh đạo đấu tranh giải phóng nhà tù, đưa các cán bộ trung kiên của Đảng trở về với phong trào cách mạng, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.Hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La gắn liền với tên tuổi của nhiều Đảng viên Cộng sản trung kiên, nổi bật nhất là vai trò của Tô Hiệu. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7/3/1944. Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đồng chí Tô Hiệu, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cho khắc tấm bia đá có chữ Tô Hiệu, bí mật đặt dưới mộ đồng chí. Cây đào mang tên Tô Hiệu được trồng bên tường trại giam hiện nay vẫn còn, bốn mùa luôn xanh tươi như một minh chứng về sức sống lâu bền của cách mạng Việt Nam, thành một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt. Nhà tù Sơn La gồm có 5 nhà giam chính, 4 tháp canh cùng một hệ thống xà lim ngầm nằm sâu trong lòng đất gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể. Năm 1952, khi thực dân Pháp rút khỏi Sơn La, đã ném bom nhằm xóa đi dấu vết tội ác của chúng, và đến năm 1965, Mỹ đã đánh phá thị xã Sơn La, phá hủy một phần của nhà tù. Năm 1980, Bảo tàng Sơn La tiến hành phục chế lại. Lần thứ nhất, san lấp hố bom, xây dựng lại một số đoạn tường rào bao quanh. Lần thứ hai, vào năm 1994, phục chế lại 2 tháp canh, nhà bếp, trại giam lớn, gia cố lại hầm ngầm, xây dựng các bức tường của các phòng giam theo dấu vết của các nền móng cũ. Hiện nay, nhà tù Sơn La trở thành một di tích lịch sử nổi tiếng, nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Hằng năm Bảo tàng Sơn La đã đón tiếp hàng trăm ngàn lượt khách là các em học sinh, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sinh viên, khách ngoại tỉnh và quốc tế tới thăm.

    Tới thăm bản Cọ – quê hương của anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá

    Bản Mòng là một địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng hấp dẫn thuộc xã Hua La, Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

    Điều đầu tiên mà du khách cảm nhận được là cảnh quan thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình nơi đây. Những dãy núi nhấp nhô như thân rồng uốn lượn soi mình xuống dòng Nậm La. Trên các sườn đồi cà phê, mơ, mận, thông, tre mọc um tùm. Xa xa là rừng cây với các loại gỗ quý: đinh hương, sến, nghiến, thông, trẩu….và hàng chục loài hoa phong lan với nhiều màu sắc. Vào độ xuân về, hoa mơ, hoa mận và hoa ban đua nở trằng rừng với từng bày ong bay tìm mật tạo nên không khí vui nhộn. Khi đông về, hoa vông gai nở đỏ rực bên sườn đồi như tô điểm cho những ngôi nhà sản lợp ngói đỏ. Cái rét se lạnh cũng là thời điểm lý tưởng để thả mình trong dòng suối nước nóng.

    Đến với vùng đất này du khách còn có thể tìm hiểu những nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc có chữ viết từ thế kỷ XI. Hiện tại, Bản Mòng có 106 hộ dân thuần Thái sinh sống. Họ sống trong nhà sàn lợp ngói ven các sườn đồi. Bên trên nóc nhà được trang trí bởi các loại khau cút, và cửa sổ cũng có đủ các loại hình thù: hình ngà voi, hình mặt trăng… Người dân nơi đây làm các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, dệt thổ cẩm, đan lát, làm gốm.

    Với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, những cư dân nơi đây đã biết tạo nên những món ăn dân dã nổi tiếng như món xôi được chế biến từ gạo nếp dẻo thơm ủ trong những cái ếp khảu nhỏ xinh xắn, món cơm lam nấu từ gạo được ngâm sau mấy giờ cho vào một loại ống tre non đốt trên than củi có mùi thơm đặc biệt, cá nướng, thịt khô, các món rau, măng đặc sản của vùng núi: măng lay, măng bói, măng đắng, nấm hương, nấm mối, rau sắng, sổm lôm…….

    Trong những đêm trăng bên ánh lửa bập bùng trong nhà sàn, du khách sẽ được cùng với chủ nhà thưởng thức những hương vị đặc sắc cùng chum rượu cần. Lòng hiếu khách của người dân và phong cảnh hữu tình nơi đây sẽ giúp quý khách quên hết những mệt nhọc của một chuyến đi xa và những bận rộn đời thường. Những âm hưởng hòa quyện của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chim rừng thánh thót cùng điệu múa xoè, múa cánh bướm, múa piêu… thúc giục như mời chào quý khách cùng hoà nhập với âm điệu của lời hát Inh lả ơi…” chắc chắn sẽ để lại cho du khách cảm giác bâng khuâng, lưu luyến và mong có ngày được trở lại với Bản Mòng.

    Hang Dơi thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với diện tích là 6.915 m2. Nơi đây dưới sự tác động của thiên nhiên đã tạo ra những hang động lớn với những cảnh đẹp mê hồn, cùng địa hình có độ dốc lớn những dòng suối chảy đã tạo ra những dòng thác khiến không ít du khách phải trầm trồ thán phục.

    Từ đường quốc lộ, muốn tới hang thì bạn phải leo 240 bậc mới tới được cửa hang. Tuy nhiên, đường được tạo dáng uốn khúc nên sẽ làm giảm bớt cảm giác mỏi mệt của du khách. Khi lên đến cửa hang, điều đầu tiên mà du khách cảm nhân được chính là khí hậu nơi đây vô cùng mát vẻ khiến bao mỏi mệt bỗng chốc tan biến.

    Những dãy núi uốn lượn bao quanh thung lũng tạo nên một cảnh tượng có một không hai: Vào buổi sáng thì bầu trời chỉ toàn một màu trắng, đến buổi trưa thì màu xanh biếc, buổi trưa thì rực hồng và màu tím biếc khi hoàng hôn.

    Từ cửa hang bước vào, du khách sẽ cảm thấy sững sờ khi thấy một cảnh sắc diệu kỳ hiện ra trước mắt trong ánh sáng mờ ảo từ cúa hắt vào như thể tạo hóa đã cảm tỉnh riêng với nơi đây mà nhô ra những vẻ đẹp kỳ thú. Trên trần động cao rủ xuống những dải nhũ thạch lấp lánh đủ 7 sắc cầu vồng.

    Phần giữa hang vòm động được nâng cao lên, có bức mành đá chắn ngang và được gọi là buồng “Công chúa”. Bên phía trái là khối nhũ đá hình người con gái đang ngồi quay sợi. Không những vậy, nơi đây còn có rất nhiều nhũ đá đủ mọi hình dáng do thiên nhiên khéo léo tạo thành.

    Trong lòng hang cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ, nhìn vào những đường nét trạm trổ trên nhũ đá cho ta cái cảm giác như có bàn tay của con người can thiệp vào bởi nó quá tinh xảo và sống động. Tuy nhiên, những cảnh đẹp nơi đây đều do thiên nhiên ban tặng.

    Trên vòm hang có nhiều hốc đá, đây chính là tổ của những đàn dơi đông đúc, đen kịt và do đó nó mới có tên là Hang Dơi. Từ trên vòm hang, những giọt nước nhỏ xuống nhủ đá tạo nên một thứ âm thanh vô cùng thánh thót và êm dịu, thứ âm thanh đó đã khiến không biết bao du khách mãi nhớ đến Hang Dơi.

    tiếp tục dừng chân nghỉ và ngắm cảnh t Sau đó, chúng tôi khởi hành đi Điện Biên, ngắm cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc với các bản dân tộc Thái, Mường. Trên đường đi chúng tôi rên đỉnh đèo Pha Đin (một trong những đèo dài nhất Việt Nam), thăm khu du lịch Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, hầm chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. D ùng bữa trưa tại khu du lịch Pa khoang.

    Sân bay Điện Biên ngày nay

    Phóng viên ảnh Hoàng Chương, Minh Nguyệt, Chị Oanh cùng Đào Xuân Mai và cây bút hài Nguyễn Hữu Nhiệm từ trái qua trước bảo tàng Điện Biên

    Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

    Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

    Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng đờ castri ngày 07/5

    Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

    Hai cô gái xinh đẹp là cộng tác viên bản tin từ trong hầm chỉ huy ra Minh Nguyệt, Hoàng Anh Phương

    Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

    Ngày xưa đồng vẫn màu đồng

    Ngày nay đồng chuyển màu hồng sang …đen.

    (Đó là cách nói ví von về các vị chức sắc biết cách “ăn đồng”).

    Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

    Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

    (chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

    Đào Xuân Mai và anh Trần Hồi Trước hầm chỉ huy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Phó tổng giám đốc, Tổng biên tập bản tin

    Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

    Gái này chẳng phải Thái đâu Trong bản làng văn hóa Điện Biên

    Trước hồ em đứng …lên màu liêu trai

    Giới thiệu cách thức nấu xôi nếp cẩm Hoàng Anh Phương và cụ bà hơn trăm tuổi

    Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 279 và 6. Thành phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên. Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên; Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu.

    Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy). Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam ra thành 2 miền: Bắc và Nam. Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây. Trong trận này, Lực lượng Việt Minh đã di chuyển pháo binh của họ lên những quả đồi xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tiến công vào sườn của quân đội Pháp. Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam.

    Khí hậu tỉnh Điện Biên là khí hậu nhiệt đới núi cao, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21ºC – 23ºC. Nhờ khí hậu núi cao, thiên nhiên hoang sơ nên Điện Biên đang được đầu tư để trở thành điểm du lịch nhưng nói thật là thái độ phục vụ & ăn uống quá tệ, e rằng khó có du khách nào muốn trở lại lần nữa.

    Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004). Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ.

    Về đường bộ, Điện Biên Phủ nối với thị xã Mường Lay bằng đường 12, cách nhau 90 km. Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 theo đường 279 đến Tuần Giáo chuyển sang đường 6.Về đường hàng không, Điện Biên Phủ có sân bay Điện Biên Phủ nối với Hà Nội.

    Mấy năm nay con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng khiến khoảng cách giữa Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần và đây là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Thành thật mà nói thì ngồi thuyền trên sông vẫn thích hơn ngồi xe suốt ngày; ít ra cũng mát mẻ hơn và thoải mái ngắm nhìn cảnh vật hoang sơ ở 2 bên bờ sông.

    Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1. Các điểm du lịch

    Đồi A1

    Đồi A1 nằm ở phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

    Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

    Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi.

    Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ

    Nằm tại khu phố 1, P. Mường Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

    Bảo tàng Điện Biên Phủ được xây dựng vào năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

    -Vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ.

    -Tập đoàn cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ.

    -Đảng chuẩn bị đường lối chỉ đạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

    -Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ.

    -Điện Biên Phủ ngày nay.

    -Hầm chỉ huy tướng Đờ Cát : Nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

    Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

    Nằm trong một khu rừng nguyên sinh tại địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ 25km về phía đông.

    Để đến đây du khách phải đi bằng ô tô, vượt qua dốc Tà Lơi hiểm trở và nhiều đoạn đường quanh co, khúc khuỷu. Gần với Sở chỉ huy có đài quan sát trên đỉnh núi độ cao trên 1.000m, từ đài quan sát này có thể bao quát hoạt động và diễn biến ở thung lũng Mường Thanh. Đến sở chỉ huy, du khách sẽ được thăm các điểm sau :

    -Chòi canh gác số 1

    -Hầm thông tin liên lạc

    -Đài quan sát

    -Lán ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    -Lán ở và làm việc của Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái

    -Đường hầm xuyên núi dài 96m nối liền lán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái Hầm của ban cố vấn Trung Quốc

    -Nhà hội trường

    -Hầm ban chính trị

    Đèo Pha Đin nằm trên đường từ Hà Nội lên Điện Biên, ở ranh giới giữa tỉnh Sơn La và Điện Biên. Đèo Pha Đin

    Đèo dài 32km, địa thế rất hiểm trở, chênh vênh. Pha Ðin tiếng địa phương nghĩa là Trời Ðất. Theo truyền thuyết địa phương, đây là nơi tiếp giáp giữa trời và đất.

    Xưa kia, vì có sự tranh chấp ranh giới giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ), người ta đã giải quyết bằng một cuộc đua ngựa. Từ hai phía đèo, cùng một lúc ngựa hai bên phi hướng về nhau. Nơi gặp gỡ sẽ là ranh giới. Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La.

    Hồ Pá Khoang

    Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km. Trong khu vực lòng hồ có các bản dân tộc Thái, Khơ Mú là những dân tộc còn giữ được những phong tục tập quán, nét đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc …

    Hang Thẩm Báng

    Thuộc huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Hang Thẩm Báng đã được xếp hạng di tích và là một điểm tham quan của du khách. Đây là hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn nguyên vẹn. Lòng hang rộng và sâu, cao gần 100m, có nhiều ngách.

    Giữa hang có phiến đá to bằng phẳng như mặt bàn. Nhìn lên các vách, trần đá, nhiều măng đá, nhũ đá tạo thành những hình thù những con rồng, con phượng, sư tử, voi quì hoặc những đoá phong lan tuyệt đẹp.

    Cầu Mường Thanh

    Chiều: chúng tôi t ới Điện Biên, nhận phòng khách sạn xong là rủ nhau đi thăm và mua săm đồ lưu niệm tại chợ trung tâm Điện Biên Phủ. Sau đó, c húng tôi khởi hành đi tham quan bảo tàng Điện Biên, Viếng Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1, thăm Đồi A1, thăm Hầm sở chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries, Cầu Mường Thanh, Sông Nậm Rốm,v.v…

    đền Hoàng Công Chất

    Hầm bộ chỉ huy quân đội Pháp – Tướng De Castries

    Sáng ngày thứ 3, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi khởi hành đi tham quan cửa khẩu Tây Trang – cửa khẩu quốc tế giữa Việt Nam và Lào. Trở lại TP Điện Biên, dùng bữa trưa tại nhà hàng.

    khởi hành đi Lai Châu Chiều: Chúng tôi theo quốc lộ 4D dọc theo sông Nậm Na. Chúng tôi thăm quan cửa khẩu Ma Lu Thàng, tiếp tục khởi hành về TX Lai Châu, dùng bữa tối tại nhà hàng. Chúng tôi n TX Lai Châu ghỉ đêm tại khách sạn.( mới).

    Sáng ngày thứ 4, dùng điểm tâm tại khách sạn. Chúng tôi trả phòng, khởi hành đi Tuyên Quang, qua Than Uyên, thăm Mù Cang Chải , ăn trưa tại thị trấn Tú Lệ.

    Chiều: Tiếp tục hành trình qua t hị xã Nghĩa Lộ thăm suối Giàng, cây Chè 500 năm tuổi, tiếp tục hành trình qua thành phố Yên Bái về Tuyên Quang, chúng tôi nhận phòng khách sạn.Qua 400km, chúng tôi mệt lã người nên d ùng bữa tối tại nhà hàng xong là nhào lên tắm và ngủ 1 chút. Thức dậy, chúng tôi

    dạo chơi tham quan thành Phố Tuyên Quang. Nghỉ đêm tại khách sạn.

    Một nhà thờ ở t hị xã Nghĩa Lộ

    Những người dân hiền lành, chất phác cùng những vũ khí thô sơ xung trận

    Mô hình bộ đội ta hò kéo pháo, những chiếc xe thồ chở lương thực lên Điện Biên

    Lá cờ quyến chiến, quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries ngày 07/5

    Chiếc xe tăng trên đồi A1 được một tiểu đội lính Mỹ lắp ráp tại chiến trận cứ 3 ngày xong một chiếc

    Hầm chỉ huy tướng đờ cát Trước đền thờ các anh hùng liệt sĩ

    Từ trên tượng đài chiến thắng nhìn xuống Thành phố Điện Biên

    Tượng đài hò kéo pháo Trên đường đi vào thăm trung tâm chỉ huy

    (chỉ đúc bằng xi măng vừa đỡ tốn và… kém). của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

    Tram gác (Đường vào bộ chỉ huy) Lán ngủ Trạm giao liên

    Giường ngủ của Đại Tướng Đường hầm, trung tâm chỉ huy

    Đồng Văn

    Sáng ngày thứ 5, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành chúng tôi vào thăm quan Bảo tàng Tân Trào và nghe giới thiệu về khu đi khu di tích lịch sử Tân Trào (ATK) – thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi mà Đảng Cộng Sản Đông Dương tiến hành hội nghị toàn quốc (13/08/1945) đến Tân Trào, di tích lịch sử Tân Trào (ATK) thăm quan Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Cây Đa Tân Trào, lán Là Nừa, ăn trưa tại thị trấn Hàm Yên.

    khởi hành theo đường Chiều: Tiếp tục hành trình đi Mèo Vạc, chúng tôi 4C đi Mèo Vạc – “Cổng Trời”, với độ cao khoảng 1.000m so với mặt biển, địa hình chập chùng núi rất khó khăn trong việc đi lại nhưng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho huyện vùng cao biên giới này một sức hút kỳ lạ đối với du khách. Đến Mèo Vạc, chúng tôi thăm chợ Mèo Vạc.

    “Cổng Trời”Mã Pi Lèng

    nhà vua Mèo

    Mèo Vạc

    Sau đó, chúng tôi t Lãng mạn hơn cả là chặng đường Tuyên Quang đến thị xã Hà Giang cặp theo dòng sông Lô, dòng sông đã đi vào nhạc phẩm nổi tiếng của Văn Cao, và những dãy núi đá vôi trùng điệp. iếp tục khởi hành đi Đồng Văn. Từ thị xã Hà Giang, qua những con đèo cao ngất tới Quản Bạ, rồi Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Phong cảnh vừa hùng vĩ vừa trữ tình dần hiện ra ngoài cửa xe như trong một bộ phim du lịch khám phá. Đầu xuân, những vườn mận, vườn đào hoa nở trắng xoá hoặc hồng rực. Đầu hè, những triền ngô(bắp) xanh nõn bám trên các sườn núi đá. Trễ hơn chút nữa, mùa lúa duy nhất trong năm bắt đầu, từ trên những sườn núi cao nhìn xuống thung sâu, thấp thoáng các khu ruộng bậc thang loáng nước, ở đó, người H’Mông đang hối hả cày cấy… Trong không gian như mơ như thực ấy, không khi nào thiếu những vạt cải hoa vàng rực rỡ. Và thật thú vị, đó chính là món ngon đầu tiên được ăn khi lần đầu tiên đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang. Cải ngồng Hà Giang rất lạ, cọng mũm mĩm như đọt măng tây, điểm những chấm hoa vàng tươi rói cả khi còn tươi lẫn khi đã luộc chín. Ngọt, chắc, bùi là những cảm giác rõ mồn một khi thưởng thức món ngồng cải luộc rất bình dân nhưng cực kỳ khoái khẩu với người miền xuôi vốn thèm rau sạch khi đến Hà Giang! Thắng cố và rượu ngô là 2 món phổ biến nhất ở vùng này.

    Ấn tượng nhất là cung đường lên cao nguyên Đồng Văn, một bên vách núi dựng đứng còn bên kia là vực sâu và con lộ phía trước tưởng chừng hút thẳng lên trời cao. Một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Đông – Tây Bắc mà nhiều du khách mong đợi được đặt chân đến chính là điểm cực bắc Việt Nam trên đỉnh Lũng Cú. Nơi đây từng được ví là “nóc nhà Việt Nam”, nơi mà người dân đất Việt nào cũng đều mơ ước một lần thưởng lãm.

    Sau quãng đường dài với những thử thách ấy, chúng tôi được đền bù xứng đáng vì phong cảnh hoang sơ, hùng vỹ trải dọc các danh thắng cổng trời Quản Bạ, núi Đôi, dinh thự vua Mèo, đèo Mã Pí Lèng, những làng mạc của người dân tộc H’Mông trắng, Lô Lô, Dao đỏ… cứ vụt qua ô cửa sổ xe trên từng cây số xe chạy qua.

    Khí hậu quanh năm mát mẻ của núi cao, nhất là vùng “lõi của cao nguyên đá” là hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc khiến nơi đây trồng được những loại rau, đậu rất ngon và lạ. Trái “dưa mèo” mũm mĩm như chú chuột bạch cỡ lớn, đậu Hà Lan xanh mượt, giòn và ngọt lạ lùng. Dẫu không nổi tiếng như ở Định Hoá (Thái Nguyên) hay Mường Thanh (Điện Biên), lúa gạo trồng trong những thung lũng lọt giữa ngút ngàn núi đá ở Đồng Văn, Quản Bạ vẫn làm nên những nồi cơm ngon nhất. Cơm gạo mới ở Đồng Văn, Mèo Vạc luôn nấu bằng nồi nhôm đúc và vùi trong than củi nên thơm dẻo khác hẳn cơm nấu trong nồi điện dưới xuôi.

    Thường thì muốn đi hết một vòng bốn huyện miền núi cao, du khách phải nghỉ lại Hà Giang sau khi vượt qua 320km đường xe từ Hà Nội. Sáng hôm sau, lại đi trên những con đường chênh vênh trên sườn núi cao ngất. Đi theo hành trình ấy, ăn trưa tại thị trấn Yên Minh là hợp lý. Chặng về cũng vậy, khởi hành từ Đồng Văn hoặc Mèo Vạc vào buổi sáng thì tầm trưa cũng lại đi qua “cửa ải” Yên Minh. Thị trấn cửa ngõ của hai huyện Đồng Văn, Mèo Vạc có hai quán ăn nhỏ nằm bên chợ huyện Yên Minh đã sẵn sàng đón khách. Món ăn ở đây khá “độc”. Ngồng cải luộc vừa ngọt vừa bùi, bó ngô non nhồi thịt thơm phức, tôm suối xào lá chanh giòn tan. Đặc biệt vào mùa lạnh, món lạp xường và thịt xông khói trở thành đặc sản. Quy trình làm lạp xường nhiều người đã biết, thịt băm nhỏ trộn gia vị nhồi vào ruột heo non và nướng trên than hồng cho chín rồi trên trên gác bếp. Thịt xông khói được làm theo cách khác. Thịt mông, vai, ba chỉ của con lợn cắp nách xẻ thành miếng dài đem ướp muối chừng một tuần rồi đem treo lên gác bếp. Đem làm món, vị mặn của muối quyện với chất béo của mỡ khiến người mới ăn không biết đằng nào mà lần!

    Lõi của vùng cao cực Bắc là thị trấn Đồng Văn. Thủ phủ của cao nguyên đá khiến ta nao lòng bởi vẻ đẹp u hoài của khu phố cổ bên ba dãy chợ mà người Pháp khi xâm chiếm Đồng Văn đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước. Vào các buổi sáng chủ nhật, dưới những mái ngói thâm nâu ấy là cả một thế giới kỳ lạ của ẩm thực! Rượu ngô người Mông 8.000 đồng/ lít, uống say tràn cung mây. Một dãy nhà ngang của chợ được dành riêng cho hàng ăn uống với rất nhiều quán phở thịt lợn. Trước dãy nhà này, xôi bảy màu của người Tày xếp thành dãy. Xế vào phía uỷ ban huyện Đồng Văn là những phản thịt lợn và kế bên là các lò thắng cố thơm phức vị thảo quả lẫn với mùi khói gỗ nghiến hệt mùi gỗ pơ mu.

    Nếu đã một lần đến cao nguyên đá, bạn hãy cố tìm để được ăn món “gà mèo”, một giống gà đặc biệt chỉ có ở vùng cao núi đá này và xứng đáng được liệt vào hàng đặc sản. Con gà mèo không khác gì gà thường nhưng chân đen, mặt đen, mào đen, da đen, thịt đen và xương cũng đen nốt. Luộc, rang và nấu canh gừng là cách người vùng cao nguyên đá “ứng xử” với gà mèo. Thịt gà mèo rất lạ: không béo, không nát, chắc mà không dai, nạc mà không xác. Tóm lại, nếu một lần đã được xơi món thịt gà đen như bánh gai ấy, thì một ngày đẹp trời nào đó, ta sẽ lại khao khát được leo cao nguyên đá lần thứ hai, rồi lần thứ ba!

    Tới đây chúng tôi không chỉ được thoả sức ngắm nhìn trời đất mà còn được tham quan một điểm du lịch lý thú đó là dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn – đây là một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và rất độc đáo của vùng cao nguyên Núi Đá.

    Đồng Văn ( Hà Giang)

    Về địa thế, Hà Giang có 8 huyện, một thị xã thì 2 huyện phía Tây bắc là vùng cao núi đất và 4 huyện phía Đông bắc là vùng cao núi đá. Năm 2010 tổ chức unesco – Liên hiệp quốc đã công nhận vùng cao nguyên núi đá này là công viên địa chất Quốc gia và Quốc tế. Đây là công viên đá thứ 69 trong các công viên địa chất toàn cầu và thứ hai trong vùng Đông Nam Á.

    Ngày 03/10/2010, Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cao nguyên này có diện tích 2.350 km2, gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, độ cao trung bình 1.400-1.600 m, nơi tập trung nhiều loại hình di sản, nổi bật là di sản địa chất và di sản văn hóa. Ảnh: Thanh Hà.

    Khu vực phía Đông bắc Hà Giang gồm 4 huyện: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được gọi một tên chung là cao nguyên Đồng Văn. Ở đây, đá chiếm đến 3/4 đất đai; người, vật, cây cối, sông suối bám vào đá để tồn tại, sinh sôi phát triển. Toàn bộ cao nguyên là di sản đa dạng địa chất, đa dạng cổ sinh địa tầng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế thuộc các lĩnh vực lịch sử tiến hoá của vỏ trái đất.

    Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng.

    Thị xã Hà Giang điểm khởi đầu của xứ sở cao nguyên đá. Con sông Lô hiền hoà phân đôi thị xã, phía hữu ngạn sông, phố xá, công sở nằm ven theo các chân dãy núi đá sừng sững; độ cao so với mặt biển của thị xã chỉ khoảng 400 mét, nhưng nhờ núi đá mà mùa hè khí hậu khá mát mẻ, dễ chịu không khác với Đà Lạt, Sapa bao nhiêu. Cao nguyên Núi Đá Đồng Văn là 1 trong những trọng điểm du lịch của miền Đông Bắc VN hôm nay. Ai đến Đồng Văn cũng háo hức chinh phục độ cao của đỉnh kéo đến cổng trời Quản Bạ, dừng chân ngắm cảnh

    Rời khỏi thị xã là tiếp cận ngay với thế giới huyền bí của đá và mây trời. Con đường độc đạo từ thị xã qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc khi len lỏi giữa những rừng đá lởm chởm, lúc men theo những vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm; có đoạn lại vượt qua những ngọn đèo cao vút, quanh năm mây phủ dày đặc, dân địa phương gọi đó là cổng trời. Thế giới đá ấy đã hình thành mấy trăm triệu năm trước, trải qua quá trình phong hoá thầm lặng và dữ dội đã tạo thành những khu vườn đá với nhiều hình thù kỳ dị, đặc biệt, hấp dẫn. Đó đây, trong các thung lũng hẹp, lớp lớp các khối đá to nhỏ xếp gối lên nhau giống như những đàn gấu đen bóng, tựa vào nhau đang nằm nghỉ ngơi. Các dãy núi có hình dạng kim tự tháp nối tiếp nhau chạy dài từ nam lên bắc, đỉnh nhọn cao ngất ngưỡng, sườn dốc lởm chởm đá tai mèo. Khắp vùng Đồng Văn, Mèo Vạc lại có những chóp đá, tháp đá có hình dạng ngộ nghĩnh như những nụ hoa, bông hoa hoặc kiểu rồng cuộn, hổ ngồi… sự cấu tạo đa dạng này đã làm cho cảnh quan toàn miền cao nguyên không buồn tẻ, hiu quạnh như các khu vực chỉ thuần đá vôi cổ. Vùng này trước kia trồng nha phiến và buôn ma túy nổi tiếng; nay là vùng định cư của các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã trồng rất nhiều đào, mận tam hoa(nectarine), v.v… chúng tôinúi RồngNơi có cột cờ cao 17m treo quốc Kỳ Việt Nam đánh dấu vùng lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc.Sau đó

    Cổng Trời Quản Bạ, ngắm Núi Đôi rồi mới khởi hành đi Lũng Cú.

    11h30 trưa, chúng tôi đến thị trấn Đồng Văn ăn trưa.

    13h30: chúng tôi lên xe đi tham quan Lũng Cú – Mảnh đất Cực bắc của Việt Nam.

    14h30: chúng tôi tham quan Cột Cờ trên đỉnh núi Rồng – di tích đánh dấu vùng lãnh thổ Việt Nam.

    Bên cạnh những vách đá màu xám trắng lại xen kẽ những dãy đồi đá phiến thoai thoải bao phủ một lớp cỏ mượt mà màu xanh lá mạ, khi nắng chiều rải xuống, màn cỏ ánh lên một màu vàng vàng, tim tím cực kỳ huyền ảo. Sông suối chảy qua cao nguyên cũng khá kỳ dị, bí ẩn. Những dòng nước trắng xoá, trong veo đang réo ầm ầm bên chân núi bỗng nhiên mất hút trong lòng núi đá rồi lại hiện ra dưới các hẻm vực vừa dài vừa rộng như một lát dao sắc ngọt xẻ đôi khối núi đồ sộ. Sự đa dạng, phong phú về sinh học của cao nguyên cũng hết sức độc đáo. Xen lẫn giữa những khối núi đá hùng vĩ là các khoảnh rừng nguyên sinh còn tương đối nguyên vẹn với nhiều loại gỗ, lâm sản, dược liệu quý hiếm như: nghiến, thông đá, tùng bách, dẻ, thảo quả, hương nhu, đỗ trọng, nấm hương, các loài phong lan v.v… Cao nguyên đá cũng là môi trường thân thiện của trên 50 loài thú, bò sát, chim muông như: sơn dương, gấu, vọc, khỉ, hoẵng, heo rừng, cầy hương, kỳ đà, trăn, gà rừng, trĩ, đại bàng, hoạ mi v.v… Hai loại cây được xem là những cây đặc trưng của vùng cao nguyên đá, gồm đào phai và mận tam hoa, sẽ được trồng dọc tuyến đường vào các điểm du lịch, điểm dừng chân, danh lam thắng cảnh, làng văn hóa du lịch cộng đồng, xung quanh trường học, trụ sở cơ quan, quanh các hồ chứa nước sinh hoạt. Trên đoạn đường phía Tây từ thị trấn Đồng Văn qua Mèo Vạc là ngọn đèo Mã pí lèng, một cảnh quan địa mạo tuyệt đẹp. Đứng trên đỉnh đèo ta có cảm tưởng chỉ vài sải tay là có thể với được tới trời. Dưới chân đèo, bên hữu, ở độ sâu hơn 1000 mét là dòng sông óng ánh bạc Nho quế, con sông lớn nhất của cao nguyên bắt nguồn từ Lũng Cú, luồn lách, ẩn hiện qua nhiều dãy núi đá để đưa nước về hợp lưu với sông Gâm, chi nhánh lớn của Lô giang.

    Cùng với những giá trị đặc hữu về địa chất, địa mạo, sinh học, cảnh quan… cao nguyên đá Đồng Văn còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá truyền thống đẹp đẽ của 22 dân tộc anh em cư trú nơi đây. Từ bao đời nay bà con các dân tộc Mông, Lô Lô, Dao, Phù Lá, Pu Péo v.v… đã sáng tạo ra cách sản xuất, cách sống, ăn, ở… riêng biệt để thích nghi với môi trường thiên nhiên.

    Từ thị trấn Đồng Văn ngược thẳng về phía Bắc khoảng 20 cây số là xã Lủng Cú, mỏm địa đầu của đất nước, nhìn lên bản đồ Việt Nam, cái chóp nhô cao như một mũi mác, chính là đất Lủng Cú. Những ngọn núi xếp lớp đơn nguyên nơi đây là điển hình của loại đá trầm tích, loại đá cổ nhất của trái đất. Lũng Cú ở độ cao gần 1800 mét. Đứng giữa xứ sở này, ta có cảm giác như đang sống bồng bềnh giữa mây ngàn gió núi; mây trắng bời bời phủ che trên đầu, trôi lững lờ dưới chân, bao quanh lẩn quất bên mình.

    Tại thôn Séo Lũng, cách trung tâm xã gần 5 cây số có ngọn núi Rồng, cột cờ Tổ quốc dựng trên đỉnh núi, sát cột mốc số 17 biên giới Việt – Trung. Tên núi Rồng đã có từ lâu đời, do đồng bào địa phương đặt. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa tên núi nơi địa đầu Tổ quốc với dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân tộc ta. Lá cờ đỏ sao vàng với diện tích 54 mét vuông – tượng trưng cho 54 dân tộc anh em ngày ngày kiêu hãnh tung bay giữa trời xanh, khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc ta. Bao thế hệ qua, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, mọi áp lực, những người dân thuộc hai dân tộc kiên cường Mông, Lô Lô ở Lũng Cú đã không tiếc mồ hôi, xương máu để bảo vệ quốc kỳ, bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng. Lớp lớp người dân Lũng Cú xứng đáng với niềm tin, sự kính phục của nhân dân cả nước.

    Cho đến nay, cảnh vật, con người trên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang vẫn giữ được khá đậm đà những nét hoang sơ, kỳ vĩ, tinh khiết có sức lôi cuốn đối với du khách trong và ngoài nước.

    Phía tả đèo, một thung lũng hẹp hun hút dưới sâu với đôi ba chục nóc nhà nhỏ tựa lưng vào dãy núi đá vời vợi, một ngôi làng quá heo hút nhưng lại được khá nhiều người không chỉ Hà Giang biết đến, bởi hàng năm ở đây diễn ra một phiên chợ đặc biệt: chợ tình khau vai, mỗi năm chỉ họp một lần vào cuối mùa xuân. Gọi chợ tình là theo nghĩa thông tục, chứ ở đây, người về chợ là để giao lưu tình cảm, tình yêu đôi lứa, không hề có chuyện mua bán hiện đại. Chợ tình khau vai hay gọi đúng hơn ngày hội tình yêu – tình bạn là một trong những nét văn hoá truyền thống đáng trân trọng của các dân tộc Đồng Văn.

    Những ngày hội dân gian, các ngày phiên chợ hàng tháng, người người từ các bản làng gần xa tụ hội về đông vui tấp nập, màu sắc trang phục sặc sỡ, đẹp mắt; cả không gian tràn ngập tiếng cười nói, lời ca ngọt ngào, âm thanh đàn, khèn, sáo du dương, quyến rũ. Người lớn tuổi, thanh niên không phân biệt nam nữ gặp nhau trong các hàng quán bình dân, tuỳ lứa tuổi và sức khoẻ, họ mời nhau chén rượu ngô thơm nồng, bát thắng cố béo ngậy, bát cháo ẩu tẩu vừa có vị đăng đắng lại ngòn ngọt… những món ẩm thực đặc sản, ai được thưởng thức một lần là nhớ mãi….

    Điểm cực Bắc của Tổ quốc và cũng là trung tâm của cao nguyên đá là thị trấn Đồng Văn. Nơi đây là xứ sở độc đáo về khí hậu và địa hình “Đất rộng mênh mông nhưng không được bao nhiêu thước bằng phẳng – Trời quanh năm không được vài ngày nắng”. Khu phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 19. Tuy thời điểm xây dựng không đồng nhất nhưng cung cách kiến trúc đều có nét khá tương đồng: nhà hai tầng, tường đá xanh, khung nhà gỗ không có mộng thắt, không chạm trổ cầu kỳ, mái lợp ngói âm dương… Hiện nay còn lưu giữ 20 ngôi nhà có niên đại trên 100 năm. Dinh thự họ Vương và khu phố cổ Đồng Văn đã được nhà nước công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Phố thị Đồng Văn còn là nơi tiêu biểu của những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cao nguyên.

    Thời Pháp thuộc, Vương Chính Đức đã giành được quyền tự trị đất Đồng Văn. Người kế nhiệm Vương Chí Thành đã ngăn giữ không cho người Nhật xâm nhập vào Đông Văn. Cách mạng tháng 8 thành công, Vương Chí Thành giao đất Đồng Văn cho chính quyền cách mạng quản lý. Bác Hồ kết nghĩa huynh đệ với Vương Chí Thành, những năm 60 thế kỷ trước ông được Bác Hồ mời về sống ở Hà Nội để có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tuổi già.

    Tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc dân gian dân tộc ấy là dinh thự họ Vương ở Sà phìn, cách thị trấn Đồng Văn khoảng 10 cây số. Đây là dinh thự của Thổ ty Vương ChínhĐức. Đầu thế kỷ thứ 20, khi chấp chính ngôi vị Thổ ty – một chức quan cai trị Đồng Văn, Vương Chính Đức triệu thợ giỏi các tộc người Mông, Lô Lô, Phù Lá… các địa phương trong vùng về xây dựng dinh thự. Toàn bộ 10 ngôi nhà ngang, dọc rộng hơn 1200m2, các dãy nhà phụ, tường rào bao quanh đều xây bằng đá. Từng chi tiết xây cất, đẽo gọt đá, gỗ ván đã thể hiện sự khéo léo, tinh tế, đặc sắc của tay nghề những người thợ dân gian bản địa.

    Những khoảnh đất trong các thung lũng giữa trùng vây đá núi được kết cấu thành những mảnh ruộng bậc thang; tận dụng các hốc đá tai mèo, bà con đã gùi đất lên bỏ vào từng hốc để gieo ngô, đậu. Vào mùa hè, mùa mưa ở cao nguyên, lúa, ngô, đậu, lanh, tam thất, hương nhu… trên nương rẫy, hốc đá vách núi tốt tươi xanh mướt hoà lẫn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dại và cỏ mật. Nhà cửa, bờ rào vườn tược, chuồng gia súc đều xây dựng bằng đá. Nghệ thuật kiến trúc đá đã đạt mức độ tinh xảo.

    dinh họ Vương thuộc địa phận xã Sà Phìn

    Trong tour du lịch về miền đá Đồng Văn, Lũng Cú, không ai muốn bỏ qua cơ hội thăm di tích nhà họ Vương, một dinh thự cổ ngủ vùi giữa thung lũng sa mộc, hội tụ nhiều giá trị kiến trúc Trung Hoa và người Mèo Hà Giang. Người ta vẫn gọi đây là dinh vua Mèo.

    Mái ngói âm dương phân lớp theo kiến trúc cổ

    Dinh vua Mèo ở huyện Đồng Văn, cách Hà Nội chừng 500km, sau khi vượt qua những chặng đường men theo sườn núi, ngoằn ngoèo như những sợi chỉ, vượt qua Cổng trời Quản Bạ. Nơi đây, một thời, ông Vương Chính Đức đóng Cổng trời lại, xưng vương. Miền đá tỉnh Hà Giang hiếm có một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo thế này. Mấy chục năm qua, những ai lên đến Hà Giang thường không bỏ qua di tích này.

    Nhà họ Vương nằm nép mình dưới tán rừng cây sa mộc cổ thụ, cao vút. Những phần nhà xuống cấp đã được phục hồi nguyên trạng. Toàn bộ hệ thống tường thành được xếp bằng đá nhẵn thín với phiến đá to, chẳng cần vôi vữa mà vẫn vững chắc. Nhà được bố trí theo kiểu cung điện Trung Hoa, được phân ra nhiều khu: phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, nhà kho, phòng của vợ ông Vương Chính Đức, hay nhà thờ. Trước cổng của ngôi nhà là ngôi mộ bằng đá chạm khắc tinh vi, là mẹ ông Vương Chí Sình, đại biểu Quốc hội các khoá I, II, III. Nơi đây còn lưu giữ một số hình ảnh về ông vua mèo oai phong lẫm liệt. Qua cổng chính là đến ba, bốn lần cổng nhỏ. Dọc hai bên hành lang của dãy nhà cao nhất là dãy nhà ngang, nhà dọc, bố trí từ thấp lên cao (theo lối kiến trúc Trung Hoa), phần trên là ảnh thờ ông Đức phóng to khi còn làm bang tá. Có cầu thang đi lên khu pháo đài, lỗ châu mai, có kè đá tảng. Các hạng mục chủ yếu được phục dựng bằng gỗ và đá. Một số đồ dùng xưa như tủ quần áo, lò sưởi của gia đình họ Vương vẫn được lưu giữ như những tín vật.

    Sáng ngày thứ 6, chúng tôi dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi trả phòng, khởi hành đi chúng tôi khởi hành đi chúng tôi tiếp tục khởi hành về thị xã Hà Giang nhận phòng, ăn tối. thăm quan chợ Đồng Văn. Sau đó, chúng tôi thăm Lũng Cú điểm cực Bắc địa đầu tổ Quốc, thăm quan và chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc cực Bắc địa đầu tổ Quốc. Ăn trưa tại thị trấn Yên Minh, sau đó Nghỉ đêm tại Hà Giang.

    Sáng ngày thứ 7, dùng điểm tâm tại khách sạn, khởi hành theo quốc lộ 2 qua Chiêm Hoá và đường 279. Đoàn dùng bữa trưa tại nhà hàng.

    đi thuyền Chiều: Tới Ba Bể chúng tôi tham quan dọc theo Hồ 1, Hồ 2 và Hồ 3 tham quan động Puông bí ẩn, thác Đầu Đẳng kỳ vĩ, thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá. Thích nhất là đi du thuyền thăm hồ Ba Bể, hồ Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng rồi đi thăm đảo An Mã, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên trước khi dùng bữa tối & nghỉ đêm tại Ba Bể.

    đảo Pò Gia Mải (đảo Bà Goá)

    Sáng ngày thứ 8, dùng điểm tâm tại khách sạn, trả phòng, tới Cao Bằng khởi hành đi Cao Bằng theo quốc lộ 3. Qua 250km, chúng tôi TX Cao Bằng

    Chiều: Đi thăm khu du lịch thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam nằm ở địa phận xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, từ độ cao trên 30m những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi làm tung lên vô vàn hạt bụi trắng toả mờ cả một vùng rộng lớn . Thác Bản Giốc là thác đẹp thuộc hàng đệ nhất danh thác Việt Nam. Thác Bản Giốc nằm trên biên giới VN và Trung Quốc, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km, theo tỉnh lộ 206 về phía bắc.Điều thú vị trong chặng đường gần 400 km từ Hà Nội lên tới thác Bản Giốc, là du khách có thể tha hồ ngắm cảnh đẹp. Qua cửa kính xe ô tô, núi rừng hùng vĩ xen kẽ trùng trùng điệp điệp nối vào nhau. Những cánh đồng ngát xanh, vạt hoa dại bên đường, nếp nhà yên bình nép mình bên núi, bầy trâu lọt thỏm giữa cánh đồng làm nao lòng du khách.

    Thác Bản Giốc nằm trong dòng chảy sông Quây Sơn, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua biên giới hai nước VN và Trung Quốc, uốn lượn quanh chân núi Cô Muông, qua những cánh đồng thuộc địa phận Đàm Thủy. Gần cuối dòng chảy, dòng sông Quây Sơn đổ từ độ cao hơn 30 mét xuống dưới chân núi tạo thành dòng thác hùng vĩ, sủi bọt trắng xóa. Thác Bản Giốc được chia làm hai phần, phía nam là thác cao, phía bắc là thác thấp. Thác thấp là thác chính, hùng vĩ hơn, tiệp mình vào núi rừng rộng lớn nay đã thuộc TQ. Hôm chúng tôi đến, nhìn từ xa, dòng nước chảy từ trên cao xuống tựa những sợi tơ trắng xóa đang nằm vắt vẻo uyển chuyển trên núi rừng hoang sơ. Nước sủi tung bọt, ầm vang. Ánh nắng hắt trên nước, lấp lánh sáng. Vẻ đẹp, sự thuần khiết, hùng vĩ hòa quyện vào nhau.

    Dòng sông dưới chân thác khá phẳng lặng, có thể đi thuyền tham quan. Ở đây có dịch vụ chèo thuyền đưa khách tham quan toàn bộ thác Bản Giốc và những cánh rừng, đồng ruộng bên bờ Quây Sơn. Cuối chiều, mặt trời xuống, ngắm nhìn thác nước tuôn trào, cảm giác thật lạ. Gió biên cương thổi lành lạnh, nhìn mặt sông xanh ngắt, lại ngước lên nhìn dòng nước tuôn trào, tựa như phun ra từ núi, đủ khiến niềm xúc cảm không tên trong lòng trỗi dậy.

    Ở Bản Giốc, đến nay vẫn chưa phát triển dịch vụ ăn, ngủ cho khách du lịch. Vì vậy, chiều buông, chúng tôi phải lên xe về lại thị trấn Trùng Khánh tìm chỗ nghỉ ngơi. Nhưng không vì trở ngại nhỏ đó mà du khách phiền lòng. Bởi, chính sự hoang sơ nơi ngọn thác biên cương là điều làm người ta thấy thú vị.

    rả phòng rồi khởi hành đi qua 200km để tham quan Pác Bó có nghĩa là “đầu nguồn” theo tiếng bản địa. Nơi đây được coi là cội nguồn của Cách mạng Việt Nam bởi địa danh này gắn với một giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và cách mạng nước ta những năm 1941-1945, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Nguyễn Ái Quốc (tên gọi của Hồ Chí Minh lúc đó) đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tại đây, Sáng ngày thứ 9, dùng điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi t khu di tích Pắc Bó – nơi ở và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm kháng chiến từ 1941 đến 1945. Quốc Từ thị xã Cao Bằng đi tiếp 52km đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng du khách có thể tới thăm Khu di tích Pác Bó. đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng Tám năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập” – cơ quan truyên truyền của Mặt trận Việt Minh, thành lập đội du kích Pác Bó.

    Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Quốc đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Quốc trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Đầu tháng 12/1944, tại Nà Sác, Quốc đã ra chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ngày 04/05/1945, Quốc rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 20/02/1961, Hồ chí Minh về thăm lại Pác Bó sau 20 năm xa cách.

    Sáng ngày thứ 10, dùng điểm tâm tại khách sạn xong rồi đi thuyền tham quan Hồ Núi Cốc ; ăn trưa xong, chúng tôi khởi hành về Hà Nội.

    Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.

    Vùng đất thị xã Lào Cai ngày nay xưa kia có một khu chợ, dần dần người ta mở mang thêm một phố chợ. Vì thế phố chợ đầu tiên này theo tiếng địa phương được gọi là Lão Nhai (tức Phố Cũ). Sau này người ta mở thêm một phố chợ khác gọi là Tân Nhai (Phố Mới ngày nay). Theo cố giáo sư Đào Duy Anh, từ Lão Nhai được biến âm thành Lao Cai và được gọi một thời gian khá dài. Khi làm bản đồ, người Pháp viết Lao Cai thành Lào Kay. Danh từ Lào Kay đã dược người Pháp sử dụng trong các văn bản và con dấu. Nhưng trong giao tiếp và dân gian người ta vẫn gọi là Lao Cai. Sau ngày tỉnh Lao Cai được giải phóng (11-1950), đã thống nhất gọi là Lào Cai cho đến ngày nay.

    Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3 -1886) và khi hoàn thành công cuộc bình định quân sự, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7/01/1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai. Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV. Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị. Ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, địa lý Lào Cai cũng có nhiều thay đổi. Về địa đanh hành chính,qua nhiều lần tách nhập:

    – Thành lập tỉnh dân sự Lào Cai (12/7/1907), phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn. Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Tỉnh Lào Cai gồm hai châu Thuỷ Vỹ, Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Phong Thổ, Bát Xát, Bắc Hà (Pa Kha) và thị xã Lào Cai, trong đó có 855 làng bản, 6.812 hộ, 39.099 nhân khẩu, với 11 dân tộc chủ yếu: Hmông, Dao, Tày, Giáy… trong đó người Hmông chiếm 26,56%, Dao 22,41%, Tày, Giáy 20,77%, Kinh 4,52%, Nùng 7,33%, Thái 9,25%, U Ní 2,48%, Hoa Kiều 4,44%, còn lại là các dân tộc khác.

    – Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất, Lào Cai được chia thành 8 huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và thị xã Lào Cai.

    – Ngày 7/5/1955, khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.

    – Ngày 27/3/1975, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn.

    – Ngày 17/4/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn.

    – Ngày 12/8/1991 kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 10/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, hai thị xã.

    – Ngày 9/ 6/1992, Hội đồng Bộ trưởng quyết định tách thị xã Lào Cai thành hai thị xã Lào Cai và Cam Đường.

    – Ngày 30/12/2000, huyện Bắc Hà được tách thành hai huyện Si Ma Cai và Bắc Hà.

    – Ngày 31/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã tỉnh lỵ Lào Cai.

    – Ngày 1/01/2004, huyện Than Uyên được tách ra thuộc tỉnh Lai Châu (mới).

    – Ngày 30/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.

    Thắng cố là một món ăn của dân tộc Mông. Thắng cố biến âm của tiếng Thoảng, cố theo tiếng Mông có nghĩa là “nồi nước”. Ngày xưa, người Mông nấu thắng cố bằng thịt ngựa, cách nấu cũng rất đơn giản. Thịt được ướp với muối, mỳ chính, thảo quả. Sau đó đổ thịt vào trong một cái chảo lớn, đảo đều cho miếng thịt săn lại thì đổ nước vào.

    Bây giờ, thắng cố thường không được nấu với thịt ngựa nữa mà chủ yếu là thịt trâu, thịt bò, thịt dê, thịt heo, nhưng có lẽ ngon nhất vẫn là thịt bò. Khi con vật được giết mổ, rửa sạch và để riêng từng bộ phận, lấy xương chân và xương ống đem ninh đến khi nhừ thì cho thịt vào, miếng thịt chín tái thì cho lòng, gan, tim, dạ dày vào.

    Ta có thể thấy niềm vui, sự đam mê, sự trân trọng cội nguồn của từng người Mông khi nấu món thắng cố. Họ cẩn thận ướp gia vị cho từng miếng thịt thơm đậm đà, múc từng muỗng bọt cho nồi nước thêm trong. Nồi thắng cố to sôi lục bục nổi lên những tảng mỡ to màu vàng nhạt điểm xuyến bằng những lá hành xanh ngắt, mùi thơm của thịt, của thảo quả, địa điềm quyện lại khiến ta có cảm giác chìm đắm trong tinh hoa thiên nhiên của đất trời ban tặng.

    Vào quán gọi món thắng cố, ít phút sau thắng cố được mang lên. Đó là một cái nồi lẩu, như mọi cái nồi lẩu khác. Nước sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút, chỉ cần ngửi mùi thôi là cảm giác thèm ăn trỗi dậy.

    Chai rượu được rót ra. Đây là rượu nấu bằng gạo, nhưng không phải là thứ men như ở dưới xuôi. Nó trong vắt, thơm ngái một chất lá và được giới thiệu là uống không bao giờ đau đầu.

    Lượt thứ nhất lách cách cụng, dốc ngược đáy chén. Rồi những đôi đũa thay nhau lật tìm trong nồi lẩu ăm ắp. Đây là miếng dạ dày, đây là miếng ruột non, đây là miếng tiết, đây là miếng gan… Còn đây miếng cật, miếng tim, miếng vai… Tất cả được thái nhỏ, vừa gắp. Đúng là có mùi là lạ, đặc trưng, nhưng ăn được ngay, thấy ngon được ngay. Lại thêm bát tương, thìa gia vị, miếng chanh, lát ớt, đĩa rau thơm, rổ rau cải… Cái món thắng cố xa lạ đã thành gần gũi. Rượu cứ thế rót ra nhộn nhịp, thôi thì đủ lý do để dốc ngược chén cùng nhau. Uống rồi bắt tay, bắt tay thật chặt. Người ta bảo uống rượu Tây Bắc là uống mỏi tay.

    Vào một ngày đông lạnh giá còn gì thú vị hơn là ngồi ăn một tô thắng cố nóng hổi, nhấm chén rượu ngô nóng, hàn huyên cùng bạn bè. Đây cũng là một nét văn hoá rất điển hình trong phong cách sống của người Mông.

    Du khách đến Tây Bắc, lên những dãy núi hùng vĩ, ngồi bên hồ nước trong vắt và trong những niềm vui giản dị đơn sơ là bát thắng cố và rượu ngô nóng. Mùi thơm ấy, hương vị đậm đà quyến rũ ấy có lẽ sẽ không bao giờ quên được, nó sẽ đọng lại trong mỗi người khách khi đặt chân lên vùng đất đẹp và hiền hoà này.

    Làng Cát Cát thuộc huyện Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa-Pa 2km.

    Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống

    Bản Cát Cát trong sương sớm

    Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng… Kiến trúc nhà cửa của đồng bào nơi đây còn nhiều nét cổ như nhà ba gian lợp ván gỗ pơmu hay bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang…

    Làng Cát Cát có 100% đồng bào dân tộc Mông với nghề thủ công truyền thống là nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm. Sản phẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ như: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn…

    Trang sức bằng bạc hay bằng đồng, nhôm –

    sản phẩm thủ công truyền thống của bản Cát Cát

    Một điều hấp dẫn nữa của làng Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ hay các lễ hội được tổ chức vào các thời điểm đầu xuân hoặc tháng cuối hè và mùa thu. Tuy chỉ có quy mô nhỏ và diễn ra trong phạm vi của làngvới các nghi lễ cúng “thổ ty” – “thổ địa” – những vị thần được thờ là những người có công lập làng nhưng mang đậm nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng độc đáo của dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam.

    Tôi cũng có dịp tìm hiểu về các món ăn độc đáo của dân tộc Mông. Người Mông ở Cát Cát có rất nhiều món ăn với cách chế biến phong phú độc đáo: rượu ngô Mông, thắng cố, thịt hun khói “khăng gai”, tiết canh gà, nhái nấu măng, bánh ngô, món đậu xị…

    Cát Cát là điểm du lịch tìm hiểu văn hóa người dân tộc gắn với thiên nhiên hoang sơ, một địa chỉ thích hợp cho những khách du lịch đã mệt mỏi với đời sống đô thị.

    đi qua cầu treo tới thăm thuỷ điện cũ của người Pháp. thác Cát Cátt nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn

    Chiều: chúng tôi đi mua sắm đồ lưu niệm tại chợ Sapa, khám phá thị trấn Sapa. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục đi chơi quanh thị trấn Sapa, tham gia phiên chợ vùng cao cùng đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, mua sắm các mặt hàng lưu niệm tại chợ Sapa, ăn trưa tại nhà hàng địa phương trước khi làm thủ tục trả phòng và trở lại thành phố Lào Cai. Chúng tôi ghé ăn trưa và mua sắm tại Chợ Mậu Biên Cốc Lếu. Ăn tối tại nhà hàng thành phố Lào Cai trước khi đáp chuyến tàu về Hà Nội. Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến đi từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn

    Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là Đông Bắc để phân biệt với vùng Tây Bắc, còn thực chấ vùng Việt Bắc. Vùng Đông Bắc là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng). Đôi khi vùng Đông Bắc bao gồm cả Đồng bằng sông Hồng.

    Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.

    Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000-1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.

    Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.

    Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là “vùng trung du”. Độ cao của phần này chừng 100-150 m.

    Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…

    Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).

    Nhà thờ đá Sa Pa

    Lịch sử

    Cơ sở lục địa của miền Đông Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền Đông Bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.

    Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thẻ có lúc nhiệt độ xuống 0 °C và có mưa tuyết thậm chí tuyết. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Phá đường” từng nhắc đến cái rét ở đây: “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”.

    Phạm vi hành chính

    Sắc tộc và văn hóa

    Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như “Hà Giang quê hương tôi” và còn rất nhiều bài hát khác.

    Vùng Đông Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Đông Bắc do Quân khu 1 bảo vệ.

    Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở : Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

    Vùng Đông Bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v… Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v… Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc.

    vườn Quốc gia Ba Bể (cách Hà Nội khoảng 250 km), thăm Bến Chòi.

    Đến với Ba Bể, du khách có dịp du ngoạn trên hồ bằng thuyền độc mộc để cảm nhận và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên với Động Puông, Ao Tiên, Thác đầu Đẳng, Bản Pác Ngòi, tìm hiểu cuộc sống, văn hoá cũng như tập quán của các bản làng dân tộc sống trên triền núi bên hồ.

    Thác Bản Giốc – Một trong những dòng thác hùng vĩ nhất Việt Nam tại biên giới Việt – Trung, thăm động Ngườm Ngao.

    Ngày 04: Cao Bằng – Lạng Sơn – Hà Nội (Ăn sáng,trưa)

    11h00: Đến Lạng Sơn quý khách dùng cơm trưa tại nhà hàng. Chiều mua sắm tại chợ Đông Kinh. 15h00: Xe đưa quý khách về Hà Nội, dừng chân tại Thị Trấn mẹt nghỉ nghơi, mua các sản vật địa phương.

    19:00 Về đến Hà Nội. Chia tay quý khách. Kết thúc chương trình.

    Đường lên Đồng Văn uốn lượn, điệp trùng với đá và đá

    Thắng cố – món ăn truyền thống của người dân tộc tại chợ phiên Đồng Văn

    Một ngôi nhà cổ tại Đồng Văn, được xây bằng tường trình – là đất nện theo khuôn – giúp cho đông ấm, hè mát

    Có được tour “đi núi, về sông” ấy là nhờ từ đầu 2008, khi cửa đập thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) đóng lại, mực nước khu vực lòng hồ dâng lên giúp thông suốt tuyến đường nối huyện Bắc Mê (Hà Giang) với Na Hang theo sông Gâm và nối với hồ Ba Bể qua sông Năng.

    Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng – cực Bắc của tổ quốc – với lá cờ có diện tích 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Để leo lên đến nơi, bạn phải trèo qua 283 bậc thang

    Vì thế tuyến đường thủy Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Kạn được kéo lại gần. Một công ty lữ hành phía Nam đã phát hiện ra hành trình này, sau nhiều lần thử nghiệm, quyết định đưa vào khai thác tour từ cuối năm 2010.

    Dòng Nho Quế uốn lượn quanh các vách núi dựng đứng của đèo Mã Pí Lèng

    Bắt đầu hành trình vượt sông Gâm, sông Năng vào hồ Ba Bể

    Núi đã vôi trên sông Gâm, cảnh đẹp không khác vịnh Hạ Long

    Những gốc cây còn sót lại của khu rừng nguyên sinh bị dòng sông vùi lấp

    Nếu sông Lô lững lờ lượn dọc con đường lên với Đồng Văn, sông Nho Quế như dải lụa vắt ngang những dãy núi dựng đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, thì sông Gâm, sông Năng… hoang sơ, bình yên đến kỳ lạ. Đó là nhờ dòng sông ấy nằm lọt giữa khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bu.

    Một ngôi chùa trầm mặc giữa lòng sông

    Tàu chở khách cứ thế lướt nhẹ giữa hai bờ là núi đã vôi ẩn hiện. Lấp ló đâu đó vài chiếc thuyền buông lưới. Một vài gốc cây khô trơ trọi đột ngột hiện trên mặt nước như tiếc nuối cái thuở còn là nguyên sinh, nay đã bị sông vùi lấp. Một đàn trâu thơ thẩn gặp cỏ ven sông… Trong khung cảnh thơ mộng ấy, muộn phiền của cuộc sống thường nhật tan biến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Điểm Du Lịch Đẹp Nhất Mù Căng Chải
  • Hương Vị Đất Trời Tây Bắc
  • Dân Mạng Bồi Hồi Nhớ Về Chiếc Muỗng “huyền Thoại” Của Làng Ẩm Thực Việt, Trông Cực Lạ Lẫm Nhưng Cứ Ăn Món Này Là Không Thể Thiếu
  • ‘ngắm Đã Mắt, Ăn Đã Miệng’ Ở Gánh Xôi 30 Năm Tuổi Đẹp Nhất Sài Gòn
  • Xôi Khúc Quê Nhà, Miếng Ngon Ấm Lửa
  • Gạo Nếp Cẩm Là Gì? Tác Dụng Và Cách Chế Biến Gạo Nếp Cẩm (Nếp Than)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chế Biến Gạo Nếp Cẩm Thành Những Món Ngon
  • Cách Nấu Gạo Nhật Làm Sushi Mềm Dẻo, Kết Dính Ngon Đúng Chuẩn
  • Mua Gạo Nhật Bản Giá Rẻ Ở Đâu? Gạo Nhật Bản Giá Rẻ Tại Tphcm
  • Cách Làm Món Sushi Gạo Lứt Thơm Ngon
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Cơm Sushi Ngon Của Người Nhật
  • Gạo nếp cẩm hay còn gọi là nếp than, có tên khoa học là Philydrum lanuginosum Banks. Đây là loại thực phẩm quen thuộc với người Việt Nam. Nếp cẩm không những thơm ngon mà còn chứa nhiều dinh dưỡng rất tốt cho cơ thể. Bạn sẽ bắt gặp những món ăn khá độc đáo từ gạo nếp cẩm như: xôi, bánh, chè,..

    Ngày nay, nếp cẩm được nhiều người tin dùng bởi công dụng tuyệt vời của nó. Với tính ẩm, vị ngọt nếp cẩm được dùng để chữa: tiêu khát, những người hay ra mồ hôi trộm, cải thiện tình trạng suy nhược cơ thể, những bệnh về tá tràng hay viêm loét dạ dày.

    Một số nghiên cứu đã chứng minh chất oxy hóa trong nếp cẩm giúp bảo vệ thành mạch, ngăn ngừa sự phá hủy của các ADN, có tác dụng hiệu quả trong việc phòng chống ung thư.

    Ngoài ra, màu đen sẫm của nếp cẩm khi nấu sẽ biến thành màu tím sẫm, chứa nhiều loại amino acid và các khoáng chất.

    Nếp cẩm còn được dùng nấu rượu nếp, uống lượng vừa phải sẽ giảm lượng cholesterol trong máu, giảm nguy cơ bệnh tim mạch và bệnh huyết áp.

    Nếp cẩm được mệnh danh là ” Bổ huyết mễ “, bởi loại gạo nếp cẩm có nguồn dinh dưỡng rất cao. Hàm lượng protein trong nếp cẩm cao hơn các loại gạo khác đến 6,8%, chất béo cao hơn khoảng 20% . Tuyệt vời nữa là trong nếp cẩm có tới 8 loại acid amin cùng các nguyên tố vi lượng cần thiết và carotene hữu ích cho cơ thể.

    Vì thế, thực phẩm này hứa hẹn mang đến hàm lượng dinh dưỡng cao cho sức khỏe con người, đặc biệt là những người thể trạng suy kiệt, người gầy.

    Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh trong men gạo nếp có nhiều hoạt chất lovastatin và ergosterol. Đây là 2 thành phần chính hạn chế tai biến tim mạch và thúc đẩy quá trình tái tạo mạch máu.

    Điều quý hơn là những loại thuốc chế tạo từ men nếp cẩm dùng chữa bệnh tim mạch không gây ra phản ứng phụ như mẩn ngứa, buồn nôn, dị ứng… Chính vì thế, nó mang đến cho bệnh nhân hiệu quả tốt nhất.

    Bạn có biết lớp màng đen bao quanh hạt nếp cẩm chứa nhiều vitamin E. Rượu nếp cẩm khi lên men còn chứa nhiều vi chất có lợi và một số nhóm vitamin B. Nhờ vậy mà nếp cẩm được sử dụng để làm đẹp như giúp làm ẩm và tái tạo làn da hiệu quả.

    Cách làm khá đơn giản: Rượu nếp cẩm bạn giã nhuyễn làm mặt nạ, dùng mặt nạ này đắp 15 phút rồi rửa sạch mặt mỗi tối. Bạn cũng có thể làm mặt nạ bằng nếp cẩm kết hợp sữa và trứng gà. Nếu bạn thường xuyên sử dụng mặt nạ này đảm bảo làn da sẽ trắng mịn trông thấy.

    Nhiều bạn thoáng nhìn vào màu gạo có thể nhầm lẫn gạo nếp cẩm với gạo lứt. Thế nhưng, nếu bạn chú ý xíu bạn sẽ thấy: gạo nếp cẩm là loại gạo còn nguyên vỏ, khi chưa xay xát đã có màu tím sẫm cả vỏ lẫn hạt, còn gạo lứt là gạo thường bỏ lớp trấu, vẫn giữ lại lớp cám màu nâu.

    Tùy vào chất lượng mà nếp cẩm có giá cả khác nhau. Thường thì giá 1kg nếp cẩm giao động từ 70.000 VNĐ đến 75.000 VNĐ.

    Bạn có thể dễ dàng mua nếp cẩm ở các cửa hàng khắp cả nước. Tuy nhiên, để mua được gạo nếp cẩm chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm bạn cần tìm đến những cơ sở sản xuất uy tín. Bạn đang băn khoăn tìm nếp cẩm mua ở đâu tốt?

    Nếp cẩm có nhiều lợi ích cho sức khỏe con người như đã nói ở trên. Người dân Việt quen thuộc với các món ăn như xôi nếp cẩm, cái rượu nếp cẩm, chè…Nhưng sữa chua nếp cẩm có công dụng như thế nào chưa hẳn ai cũng biết.

    Sữa chua kết hợp với nếp cẩm tạo thành món ăn ngon, mát và bổ dưỡng. Vị thơm bùi của nếp cẩm hòa với vị thanh mát trong sữa chua sẽ mang đến cảm giác thơm mát khi bạn thưởng thức. Vậy, sữa chua nếp cẩm có tác dụng gì?

    Nếp cẩm trong sữa chua được nấu, ủ men có màu đỏ mận đậm giúp bổ máu. Đây là món ăn giúp tăng sức khỏe, khắc phục tình trạng mất máu ở chị em phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt. Thế nên món ăn này được chị em đánh giá cao bởi chất lượng của nó.

    Một trong những tác dụng của sữa chua nếp cẩm không thể bỏ qua mà chị em phụ nữ rất quan tâm đó là tác dụng làm đẹp. Nếu bạn sử dụng thường xuyên sữa chua nếp cẩm bạn sẽ sớm sở hữu một vóc dáng đẹp và một làn da mịn màng.

    Trong nếp cẩm có các sắc tố giúp da hồng hào, còn trong sữa chua giúp giữ độ ẩm cho da tạo độ căng mịn. Đây có thể xem là thực phẩm vàng trong lĩnh vực làm đẹp.

    Như đã đề cập ở trên, để làm sữa chua nếp cẩm thì nếp cẩm nấu chín, ủ lên men cho có độ chua sau đó trộn với sữa chua. Quá trình ủ men nếp cẩm tạo ra các vi khuẩn có lợi, các vi khuẩn này khi kết hợp với các lợi khuẩn trong sữa chua rất tốt cho hệ tiêu hóa.

    Thế nên, khuyến cáo bạn nên thường xuyên ăn sữa chua nếp cẩm, đặc biệt những bạn bị những bệnh về dạ dày, tiêu hóa yếu. Nếu bạn đang mắc phải bệnh viêm loét dạ dày thì các món ăn từ nếp cẩm cũng giúp bạn hạn chế căn bệnh này đấy.

    Vấn đề phụ nữ sau sinh thường mắc phải là cơ thể suy nhược do mất máu khi sinh con, thiếu chất sắt hay dạ dày hoạt động kém. Sữa chua nếp cẩm sẽ giúp chị em sau sinh nhanh chóng khôi phục sức khỏe và bổ máu.

    Trong nếp cẩm có nhiều chất sắt, magie, kẽm giúp bổ sung chất dinh dưỡng và da không bị sạm, nhăn. Với tác dụng này mà chị em phụ nữ sau sinh nên ăn nếp cẩm thường xuyên.

    Bước 1: Gạo nếp cẩm vo sạch, sau đó ngâm khoảng 3 – 4 tiếng đồng hồ trong nước pha sẵn 1 thìa cà phê muối.

    #Ngâm gạo nếp cẩm.

    Bước 2: Khi nếp cẩm đã ngâm xong, bạn đổ cả gạo lẫn nước ngâm vào xoong rồi đun trên bếp với lửa nhỏ. Khi đun bạn cho lá nếp vào cùng sau đó dùng muôi khuấy đều.

    #Nấu chè nếp cẩm.

    Bước 3: Bạn tiếp tục đun với lửa nhỏ cho đến khi nếp cẩm chín, dễ dàng nhận ra khi nồi nếp cẩm sánh lại.

    Bước 4: Bạn cho đường vào nồi nếp cẩm, dùng muôi đảo đều và đun thêm khoảng 5 phút cho đường ngấm đều vào nếp cẩm. Sau đó, tắt bếp và bắc nồi xuống để nếp cẩm nguội.

    Bước 5: Khi chè nếp cẩm nguội hẳn, bạn dùng muôi múc chè ra cốc. Bạn cho sữa chua, nước cốt dừa vào cốc khuấy đều. Bạn có thể cho thêm ít đá bào để tăng độ mát cho cốc sữa chua ngon bổ này. Và bây giờ bạn đã được thưởng thức cốc sữa chua hấp dẫn do chính tay mình chế biên, sẽ rất ngon đây.

    #Hoàn thành sữa chua nếp cẩm.

    Lưu ý:

    Sữa chua nếp cẩm rất bổ dưỡng, nhưng bạn cũng không nên lạm dụng thực phẩm này, nếu không sẽ có tác dụng ngược. Các chuyên gia hàng đầu về dinh dưỡng khuyến cáo chỉ nên sử dụng khoảng 3 đến 4 lọ sữa chua nếp cẩm trong tuần.

    Món xôi truyền thống đã mang lại nét đậm đà cho người Việt thì xôi nếp cẩm hay còn gọi là xôi nếp than đã chinh phục nhiều người sành ăn. Với chi phí vừa phải bạn đã sở hữu món xôi nếp than ngon, bổ, hấp dẫn.

    Bước 1: Bạn cho gạo nếp cẩm và đỗ xanh ngâm qua đêm cho mềm.

    Bước 2: Gạo nếp than sau khi ngâm bạn đãi sạch rồi cho vào nồi nấu chín cùng với nước dừa và muối.

    Bước 3: Đậu xanh sau khi ngâm bạn cho vào chõ xôi hấp khoảng 30 phút, để đậu xanh mềm là được.

    Bước 4: Đậu xanh đã chín bạn nghiền cho nát, cho vào nồi nhỏ cho thêm 20g đường nấu ở lửa nhỏ trong 2 phút rồi bắc xuống.

    Bước 5: Cho khoảng 100ml nước sạch, 100ml nước cốt dừa, 40g đường, 2 g muối và 5g bột năng vào 1 nồi nhỏ khác, khấu đều. Cho nồi đựng hỗn hợp này lên bếp đun ở lửa nhỏ và khuấy đều cho đến khi hỗn hợp sánh lại.

    Vậy là món xôi nếp cẩm đã hoàn thành. Lấy xôi nếp than ra bát, thêm vào chút đỗ xanh đã nghiền nát và bỏ chút nước dừa đã đun là thưởng thức được rồi. Chắc hẳn, bạn sẽ hài lòng với vị ngon, béo ngậy mà món xôi nếp cẩm mang lại.

    Cách ngâm rượu nếp cẩm

    Rượu nếp cẩm cũng có rất nhiều lợi ích cho cơ thể mà bạn nên biết. Rượu nếp cẩm lên men có vị ngọt của gạo và vị cay của rượu giúp tiêu diệt các loại vi khuẩn, mầm bệnh trong cơ thể, đồng thời giúp tăng cường sức khỏe cho cả gia đình.

    Nguyên liệu làm rượu nếp cẩm:

    Bước 1: đem ngâm gạo nếp cẩm trong nước khoảng 8 – 10 tiếng để gạo nở đều. Nên ngâm qua đêm để tiết kiệm thời gian và giúp gạo mềm hơn khi nấu.

    Bước 2: Loại bỏ các hạt gạo bị hỏng. Cho gạo vào nồi cơm điện nấu với lượng nước xâm xấp mặt là được. Trong khi nấu, nếu nước cạn mà gạo chưa chín mềm thì cho thêm nước sôi nào đun tiếp. Khi cơm chín, bạn xới ra đĩa to rồi dàn mỏng để cơm nhanh nguội.

    Bước 3: Men rượu cạo hết lớp vỏ trấu bên ngoài rồi cho vào cối giã thành bột mịn. Dùng rây rắc đều men lên cơm đã nguội. Sau đó dùng đũa hoặc tay trộn đều men với cơm rồi bọc vào là chuối, lá sen hoặc giấy bạc (lưu ý là nên đục 1 vài lỗ trên lá để thoát khí)

    Bước 4: Bạn đặt 1 chiếc đĩa vào nồi rồi đặt gói nếp cẩm lên trên. Đậy kín nắp và ủ trong 2 ngày để cơm tiết ra nước và có mùi rượu đặc trưng. Sau khoảng thời gian này, nếu bạn không muốn cơm lên men thêm nữa thì có thể cho vào tủ lạnh để bảo quản.

    Bạn có thể ăn trực tiếp rượu nếp cẩm hoặc ăn cùng sữa chua để có một món ăn giàu dinh dưỡng.

    • 500g gạo nếp cẩm
    • 1,5 cái men ngọt (20g)
    • Lá chuối, lá sen hoặc giấy bạc

    Để ngâm rượu nếp cẩm uống thì bạn cho nếp cẩm vào bình và cho rượu vào ngâm như ngâm rượu nếp bình thường. Bạn cho lượng rượu vừa đủ để đảm bảo chất lượng rượu, tỉ lệ 1 phần nếp 3 phần rượu là hợp lý. Ngâm khoảng 20-30 ngày là có thể uống được.

    Rượu nếp cẩm để càng lâu thì vị càng ngọt và thanh. Chú ý khi ngâm thì nên ngâm ở chỗ mát, nhiệt độ khoảng từ 20-25 độ. Như vậy là bạn đã có món rượu nếp cẩm vừa ngon mà lại bổ dưỡng nữa rồi!

    Các món ăn từ gạo nếp cẩm (gạo nếp than) hứa hẹn sẽ mang đến những điều hấp dẫn cho bạn cả về dinh dưỡng lẫn tác dụng làm đẹp và chữa bệnh. Vậy, còn chần chừ gì mà không bắt tay sáng tạo ra những món ăn ngon, bổ, rẻ từ thực phẩm này để đãi cả nhà đi nào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gạo Lứt Muối Mè: Cách Chọn Gạo Và Cách Nấu Đơn Giản
  • Cách Nấu Cơm Gạo Lứt Muối Mè Để Giảm Cân Hoặc Chữa Bệnh
  • Cách Làm Gạo Lứt Rang Rong Biển Muối Mè Bổ Dưỡng
  • Cách Nấu Cơm Gạo Lứt Ngon Bằng Nồi Cơm Điện Và Nồi Cơm Thường
  • Cách Nấu Cơm Gạo Lứt Bằng Nồi Cơm Điện Cực Ngon
  • Ý Nghĩa Của Món Chè Bà Ba Và Cách Chế Biến Chè Ngon Đúng Chuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Chè Khoai Mì
  • Thèm Món Chè Thần Thánh Nhà Quê Của Mẹ
  • Cách Nấu Chè Bà Ba Nước Cốt Dừa Nổi Tiếng Miền Tây Nam Bộ
  • Cách Nấu Chè Bà Ba Dẻo Bùi, Ngon Đúng Kiểu Nam Bộ
  • Học Cách Nấu Chè Bà Ba Để Đánh Bay Nắng Mùa Hè
  • Chè bà ba còn có tên gọi khác là chè thưng, đây là một trong những món chè nổi tiếng và khá quen thuộc với người dân vùng đất Nam Bộ. Bất cứ người dân Nam Bộ nào cũng ít nhất thử chè bà ba trong đời. Thưởng thức tô chè béo ngậy với sự kết hợp hài hòa giữa các loại nguyên liệu và được nêm nếm đậm đà mang đến cho người ăn cảm nhận khó quên ngay khi ăn miếng chè bà ba lần đầu tiên.

    1. Ý nghĩa của món chè bà ba của người dân Nam Bộ:

    Món chè bà ba khá gần gũi, quen thuộc với bất cứ người dân xứ Nam Bộ. Món chè được mệnh danh là chè ngon nhất xứ Nam Bộ, có thời còn được xem như chè chỉ dùng cho giới nhà giàu thưởng thức.

    Về ý nghĩa của món chè bà ba không phải ai cũng biết. Nhiều người cho rằng vì đây là món chè nổi tiếng ở Nam Bộ mà vùng đất Nam Bộ thường gắn liền với những chiếc áo bà ba, khăn rằn mang đậm chất quê. Chính vì vậy mà tô chè gắn liền với những con người mang trên mình chiếc áo bà ba bằng sự khéo léo trong chế biến đã cho ra đời những tô chè thơm ngon, khó cưỡng khiến bao người say đắm.

    Những tô chè nóng hổi được nấu từ các nguyên liệu hòa quyện hài hòa mang đến cho người ăn thưởng thức hương vị đậm chất Nam Bộ mà không lẫn với bất cứ vùng miền nào.

    2. Cách chế biến món chè bà ba ngon đúng chuẩn:

    Các nguyên liệu cần chuẩn bị để chế biến món chè bà ba:

    Để chế biến món chè bà ba đậm chất Nam Bộ với hương vị béo ngậy, thơm ngon đúng chuẩn, bạn cần chuẩn bị các nguyên liệu sau:

    • 2 củ khoai lang
    • 1 củ sắn
    • ½ chén hạt sen khô
    • ½ chén đậu phộng
    • 500ml nước cốt dừa
    • ¼ chén bột báng
    • 1 bó lá dứa
    • 10g phổ tai
    • 2 muỗng bột cốt dừa
    • 300g đường cát trắng
    • 1 chén đậu xanh đã lột vỏ.

    Trình tự các bước thực hiện món chè bà ba hấp dẫn: Bước 1: Sơ chế các nguyên liệu

    • Cho đậu xanh, bột báng và bột khoai vào từng tô nước lạnh ngâm trong khoảng 10 phút để các nguyên liệu nở mềm rồi rửa sạch, vớt ra để ráo nước.
    • Hạt sen ngâm nước lạnh cho mềm, rửa sạch và để ráo nước.
    • Phổ tai ngâm nước lạnh, rửa sạch rồi cắt khúc nhỏ vừa ăn.
    • Lá dứa rửa sạch, bó thành cuộn nhỏ.
    • Khoai lang và củ sắn gọt bỏ vỏ, ngâm qua nước muối pha loãng rồi rửa sạch, cắt khúc hình vuông nhỏ.
    • Đậu phộng rửa sạch rồi cho vào nồi luộc sơ để đậu chín mềm, vớt ra để ráo nước.

    Bước 2: Chế biến chè bà ba

    • Đầu tiên, bạn cho đậu xanh vào nồi nước luộc sơ để đậu chín mềm. Sau đó chắt bỏ nước, cho đường vào trộn đều với đậu.
    • Hạt sen cho vào nồi luộc chín mềm, vớt ra tô để riêng.
    • Bắc nồi lên bếp, cho nước cốt dừa và lá dứa vào ninh cho sôi. Khuấy đều để nước cốt dừa không bị trào ra ngoài. Sau đó, vớt bọt và gắp bỏ phần lá dứa ra. Tiếp tục cho bột báng, khoai lang và củ sắn vào nồi ninh cho các nguyên liệu chín mềm.
    • Khi khoai trong nồi chín thì cho hạt sen, đậu phộng và đậu xanh vào tiếp tục ninh trên lửa nhỏ liu riu để các nguyên liệu hòa quyện với nhau và chín đều. Cuối cùng, cho phổ tai vào nấu chung với các nguyên liệu trên và ninh thêm 3 phút rồi tắt bếp.
    • Nêm nếm đường vào nồi chè sao cho có vị ngọt dịu vừa ăn.

    Bước 3: Trình bày và thưởng thức món chè bà ba

    • Múc chè bà ba ra tô, rắc thêm ít đậu phộng rang hoặc cho ít nước cốt dừa, vụn cốt dừa lên trên để tạo màu sắc hấp dẫn cho món ăn thêm ngon miệng hơn.
    • Món chè bà ba ăn kèm với các món ăn vặt hoặc dùng làm món tráng miệng, ăn kèm với các món ăn chiều đều ngon.

    3. Yêu cầu đối với cách thực hiện món chè bà ba:

    Chế biến món chè bà ba tuy cần nhiều nguyên liệu nhưng chỉ một chút khéo léo là bạn đã có thể tự tay chế biến nồi chè thơm ngon đúng chuẩn để đãi các thành viên trong gia đình. Khi nấu chè bà ba, bạn cần lưu ý:

    • Chọn đậu xanh đã lột vỏ, ngâm rồi cho đậu vào luộc chín. Để đậu có vị bùi và ngon hơn thì bạn nên trộn với đường trước khi cho vào nồi chè ninh cùng các nguyên liệu còn lại.
    • Đậu phộng và hạt sen nên luộc sơ cho chín mềm rồi mới cho vào nồi nấu chung với các nguyên liệu nấu chè để không tốn nhiều thời gian nấu, giúp các nguyên liệu chín đều và giữ được hương vị vốn có của món chè này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nấu Chè Bà Cốt Xưa Của Người Hà Nội
  • Hướng Dẫn Cách Nấu Chè Bà Cốt Ngon Chuẩn Vị Tại Nhà
  • Cách Nấu Chè Bà Ba Thơm Ngon Đậm Chất Nam Bộ
  • Cách Nấu Chè Trôi Nước Nhân Đậu Xanh Thơm Ngon Nức Mũi
  • Cách Làm Chè Trôi Nước Quá Ngon Khác Nhau
  • Pasta Là Gì? Cách Phân Loại Và Chế Biến Pasta Đúng Chuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Học Bếp Trưởng Bếp Âu
  • Cách Nấu Phở Chay Thơm Ngon Khó Cưỡng
  • Cách Làm Sa Tế Sả Ớt Tại Nhà Đẹp Mắt Với Dầu Hạt Điều Trong 30 Phút
  • 5 Cách Làm Ớt Sa Tế Xào Tỏi, Sả Cay Ngon Đơn Giản Tại Nhà
  • Cách Làm Sate Phở Ngon
  • Pasta là một loại mì sợi và là nguyên liệu cần thiết trong các món ăn truyền thống của Ý, thường có dạng sợi hoặc nhiều hình dạng khác nhau như xoắn ốc, vỏ sò, bướm…

    Các tài liệu tham khảo đầu tiên ghi chép về Pasta có từ năm 1154, tổng cộng có hơn 310 loại với 1.300 tên gọi. Đây là một con số rất “khủng” và sẽ rất khó để chúng ta có thể tìm hiểu và ghi nhớ tất cả. Vậy nên, bài viết này sẽ giới thiệu đến bạn cách phân loại cũng như một số loại Pasta quen thuộc được nhiều người ưa chuộng.

    Cách phân loại Pasta

      Dạng sợi: Pasta dạng này có bề rộng, độ xoăn và màu sắc khác nhau nhưng nhìn chung đều có dạng sợi dài, khi ăn, thực khách sẽ dùng nĩa và xoay nhẹ để cuộn mì lại, thường ăn kèm với nước xốt từ dầu oliu, xốt kem hoặc cà chua. Một số loại mì dạng sợi phổ biến là Spaghetti, Capellini, Fusilli Lunghi,…
  • Dạng ống: Có bề rộng, độ xoăn và màu sắc khác nhau, sợi mì có thể trơn hoặc lượn gân, đầu vạt tròn hoặc vạt chéo. Pasta ống được ăn kèm với các loại nước xốt đặc sệt, thích hợp để chế biến các món ăn đút lò. Macaroni, Penne, Rigatoni,… là những loại mì dạng ống được nhiều người yêu thích.
  • Dạng đặc biệt: Có hình dạng phong phú và đặc trưng cho từng vùng. Pasta loại này có thể làm Salad, súp hoặc ăn kèm với nước xốt. Nước xốt để ăn cũng có phần cầu kỳ hơn như nước xốt bơ, đậu Hà Lan và thịt giăm bông nấu chín hoặc nước xốt kem và cá hồi, nước xốt pho mát với một ít nghệ tây hoặc cà ri… Có thể kể đến một số loại mì dạng đặc biệt gồm Farfalle, Rote, Conchiglie,…
  • Dạng có nhân: Có thể có hình tròn, hình vuông, tam giác và có nhân bên trong nhưng loại này khá khó tìm ở Việt Nam. Ravioli, Gnocchi, Fattisu,… là một loại mì có nhân phổ biến.
  • Dạng bản lớn: Đây cũng là một loại mì khó tìm ở Việt Nam, bản lớn và thường dùng làm nền cho các món đút lò. Một số loại mì loại bản lớn như Lagsana, Blecs, Filindeu,…
  • Pasta Conchiglie có hình dạng vỏ sò – Ảnh: Internet Spaghetti là Pasta dạng sợi phổ biến – Ảnh: Internet

    Dựa vào hình dạng, Pasta bao gồm những loại cơ bản sau:

    • Các loại sợi nhỏ thì thường ăn chung với các loại nước sốt không quá đặc, vị nồng không cao lắm.
    • Các loại sợi to nên ăn cùng nước sốt đặc sánh.
    • Các loại không phải dạng sợi thì ăn chung với nước sốt có nhiều rau củ.
    • Các loại có dạng đặc biệt như vỏ sò, bướm,… thì nên dùng nước sốt đặc rưới đều lên để sốt thấm vào toàn bộ sợi mì

    Chế biến Pasta như thế nào?

    Với hàng trăm loại Pasta khác nhau cũng sẽ phát sinh hàng trăm cách chế biến cũng khác nhau, phụ thuộc vào từng loại và khẩu vị người dân từng vùng. Tuy nhiên, nhìn chung, cách chế biến Pasta được các Chuyên gia ẩm thực tóm tắt như sau:

    Đun sôi nước rồi mới cho mì vào. Trong khi luộc, bạn có thể nêm thêm ít muối và dầu ăn để các sợi không bị dính vào nhau. Thời gian để luộc cho vừa chín các loại nui, mì dày từ khoảng 12 -15 phút, còn với những loại nhỏ thì nên luộc trong khoảng 5 – 8 phút. Dạng tươi thì chỉ cần nấu 3 – 5 phút là được, không nên để mì chín quá mềm.

    Với các món Pasta dùng sốt hải sản, bạn nên luộc sao cho sợi Pasta vẫn còn hơi cứng bởi vì, sau đó, bạn sẽ nấu chung với sốt để nước sốt thấm vào sợi mì, nếu bạn luộc mì sợi quá chín thì khi đun cùng sốt, sợi mì sẽ bị bở, nát, không ngon.

    • Nấu cùng với pho mát và hạt tiêu hay tỏi, dầu.
    • Nấu với cà chua thịt bằm cùng nước xốt đặc biệt.
    • Nấu cùng cà chua và cá ngừ

    Sự khác nhau giữa Pasta và Spaghetti

    Theo như thông tin phía trên mà chúng tôi cung cấp thì các bạn cũng đã nhận ra Spaghetti và Pasta thực sự không khác nhau. Thực chất Spaghetti là một loại mỳ Pasta có dạng sợi tròn nhỏ, được làm từ bột Semolina và nước. Thứ đặc trưng nhất giúp phân biệt Spaghetti so với các loại Pasta khác đó là nhờ vào loại bột mỳ Semolina – được làm từ loại lúa mỳ cứng nhất có màu hổ phách. Tại Việt Nam, khi nhắc đến mì Ý, người ta sẽ nghĩ ngay đến Spaghetti chứng tỏ loại mỳ này cực kỳ nổi tiếng

    Cách chế biến Spaghetti cũng cực kỳ đa dạng như

    Dù chế biến với cách nào đi nữa thì Spagheti vẫn giữ được độ dai, mềm đặc trưng của mì đó là nguyên nhân mà loại mì này nổi tiếng trên toàn thế giới

    Đó là một số thông tin về Pasta là gì cũng như cách chế biến từ https://vieclamdaubep.vn mà bạn có thể tham khảo để hiểu hơn món ăn nổi tiếng này. Hiện nay, các món ăn từ Pasta được phục vụ khá nhiều tại các nhà hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Công Thức Pasta Sẽ Làm Bạn Ăn Mãi Không Thôi
  • 10 Bí Quyết Nấu Pasta Ngon Như Ý
  • Bữa Trưa Đổi Món Với Cách Nấu Phở Bò Viên Cực Dễ
  • Bỏ Túi Cách Làm Phở Bò Viên Ngon Lạ, Hấp Dẫn
  • Cách Nấu Phở Tái Bò Viên Ngon Và Bổ Dưỡng
  • Tin tức online tv