Đề Xuất 12/2022 # Chế Biến Và Bảo Quản Hạt Đác / 2023 # Top 18 Like | Ctc-vn.com

Đề Xuất 12/2022 # Chế Biến Và Bảo Quản Hạt Đác / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chế Biến Và Bảo Quản Hạt Đác / 2023 mới nhất trên website Ctc-vn.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

CÁCH CHỌN, SƠ CHẾ, BẢO QUẢN

Tùy theo sở thích khách hàng có thể mua hạt non, mềm, hoặc vừa phải, hoặc già,hơi cứng. Thông thường hạt dùng để chưng/rim thì nên chọn hạt non, mềm. Còn hạt tươi ngâm đường có thể chọn hạt vừa phải hoặc hơi già.

Lưu ý : những hạt già,cứng nên được chẻ dọc rồi mới được ngâm đường,nhai sực sực rất ngon. Không nên để nguyên hạt vì rất khó cắn, khó nhai.

Sau khi nhận hạt đát/hột đác về rửa sạch 3 lần nước.

III. BẢO QUẢN 1. Cất vào ngăn mát tủ lạnh. Bảo quản trong vòng 10 ngày – 1 tháng.

2.Nếu không có điều kiện cất tủ lạnh, thì ngâm trong nước sạch (hoặc nước muối loãng) ở nhiệt độ thường. Ngày nào cũng rửa lại hạt đát và thay nước mới. Bảo quản trong vòng 2 tuần.

*) Phải sử dụng nước máy. Tuyệt đối không sử dụng nước mưa, nước bị nhiễn phèn,vì nước mưa có axit dễ làm hỏng hạt đát/hột đác.

*) Không nên cho tay vào nước trong quá trình bảo quản. Nếu không nước sẽ bẩn, nhanh hỏng hạt đát/hột đác.

1. Hạt đát/hột đác phải rửa sạch nhớt, nếu không sẽ nhanh hỏng.

2. Nếu thấy hạt đát/hột đác tươi hơi cứng thì nên để hạt đát/hột đác trong ngăn đá tủ lạnh. Sau 1 ngày, bỏ ra rã đông thì hạt đát/hột đác sẽ rất mềm.

3. Ngâm nước có tác dụng làm mềm, trắng, sạch hạt đát/hột đác. Đây cũng là cách nếu thấy hạt đát/hột đác có màu không đẹp, hoặc hơi cứng.

4. Không ngâm hạt đác trong nước mưa, nước bị nhiễm phen hoặc trong thau nhôm

CÁCH CHẾ BIẾN: Hột đác chế biến được nhiều món giải khát hấp dẫn như các loại chè trái cây, hột đác rim đường, yaourt (sữa chua) hột đác…

– Bước 1: Sau khi nhận hột đác, rửa hột đác vài lần đến khi hết mùi. Vì bản thân hột đác tươi là loại thực vật nên dễ có mùi, đổ nhớt sau vài ngày

.- Bước 2: Nấu nước sôi. Chần (luộc) hột đác đến khi nước sôi lại, sau 3 – 5 phút tắt bếp. Mục đích để giảm bớt mùi khó chịu (nếu có), tiêu diệt vi sinh vật để bảo quản, làm bớt nhớt…

– Bước 3: Rửa sạch lại 1 lần nữa (hoặc bỏ qua bước này)

– Bước 4: Chưng (rim) hột đác. Vì hột đác là loại thực vật nên bản thân chứa nước, khi chưng không cần nước, chỉ cần hột đác và đường . Tỷ lệ vừa phải 1kg hột đác với 300-400gr đường. Gia nhiệt đến khi đường tan và cạn nươc đường, hạt đác trong. Các loại đường có thể dùng là: đường cát trắng, đường phèn… Có thể dùng đường vàng nhưng loại này sau khi rim nếu để lâu hạt đác sẽ ngã màu làm mất cảm quan.

Nếu anh chị nào thích ăn ngọt có thể thêm lượng đường (khi chưng) nếu muốn, ngoài ra lượng đường càng nhiều sẽ thời gian bảo quản hạt đát tốt hơn, hạt sẽ săn lại nhiều hơn, ăn sẽ ngọt đậm đà hơn.

– Bước 5: Bảo quản ngăn mát tủ lạnh trong vòng 1 tháng hoặc ngăn đá. Trong thời gian bảo quản ngăn mát nên 2 tuần 1 lần gia nhiệt lại.

Sau khi tiến hàng bước 3 như trên, anh chị nấu nước sôi, chần dứa qua nước sôi (nhớ là chần thôi nha) và cắt nhỏ… Việc chần dứa giúp phá hủy các enzyme lên men, do đó sẽ giúp sản phẩm có màu đẹp hơn, bảo quản được lâu hơn mà không bị lên men… Dứa có thể nhiều hay ít tùy sở thích anh chị muốn có hạt đát mùi dứa hay dứa có mùi hạt đác

Tiến hành chưng hột đác với đường, dứa theo tỷ lệ 1kg đác với 500gr đường vì có thêm dứa (có thể vắt lấy xác)… Thêm lượng đường tùy thích. Ngoài ra có thể thêm vani, gừng để sản phẩm được thơm hơn. Rim đến khi đạt được độ keo mong muốn.

Hột đác rất dễ bị nhuộm màu sắc nên anh chị có thể rim chung với các loại siro yêu thích (tự làm hoặc mua).

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều chủng loại siro như: Bạc hà, dâu, nho, kiwi… với nồng độ đường khác nhau.

Thông thường, 1kg hột đác chưng với khoảng 50ml nước siro đậm đặc + 400gr đường… đến khi cạn nước. Tùy độ màu yêu thích có thể điều chỉnh thêm.

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều chủng loại siro như: Bạc hà, dâu, nho, kiwi… với nồng độ đường khác nhau.

Thật ra thì các món trên cũng làm rất dễ và nhanh, nên khuyến khích các bạn mua hột đác tươi về tự rim để nêm gia vị theo ý mình, có thể dùng chung với sữa chua, hoặc nấu chè sâm bổ lượng, bông cỏ, chè “MÍT ĐÁT”…

Lưu ý: nếu chưng(rim) Hạt đát/hột đác bị cứng thì nên đổ thêm nước rim nóng lên, Hạt đát/hột đác sẽ mềm ra.

Hạt đát/hột đác tươi sơ chế như trên.Đường phèn bạn có thể mua ở các tiệm tạp hóa gần nhà theo gói 500g,nên dùng đường phèn thay cho đường trắng vì vị ngọt thanh của nó sẽ khiến bạn ăn ngon hơn.Ngâm đường phèn với Hạt đát/hột đác tầm 30p cho ngấm rồi cho thêm nước sâm sấp đun nhỏ lửa cho sôi 30p nữa để đường tan hết.Bạn cũng có thể cho thêm dứa sắt lát rồi đun sôi lại là được rồi.Để nồi chè nguội hẳn thì bạn cho mít vào.

Thêm ít đá xay cho chè mít đác vào cốc.

CÁC MÓN ĂN/UỐNG CÓ THỂ ĂN KÈM VỚI HẠT ĐÁC:

1) Yogurt(Sữa chua) + hạt đát(nổi bật là sữa chua mít đát)

3) Bơ dằm + sầu riêng + hạt đác

6) Chè đậu đen nước cốt dừa + hạt đác

7) Nước chanh dây + hạt đác

9) Dâu dằm + sữa + hạt đác

10) Dâu + yogurt + hạt đác

11) Nước ép cam + hạt đác

12) Nước ép nha đam cam + hạt đác

13) Nước ép cam cà rốt + hạt đác

14) Sinh tố thơm(dứa) + hạt đác

AFruit.vn – Chuyên phân phối sỉ và lẻ hạt đác Nha Trang tại Hà Nội. – Địa chỉ kho: Số 8/24 ngõ 65/42 Phố Yên Lộ Yên Nghĩa Quận Hà Đông Hà Nội – Hotline: 0932.225.882 – Email: Lanhuonglan@gmail.com – Facebook: https://www.facebook.com/ngocminhchau.tran.10

Bảo Quản Nấm Và Chế Biến Nấm / 2023

Nấm rơm là nấm dễ biến đổi và hư hỏng nhanh so với các loại nấm trồng khác. Do đó việc bảo quản nấm rơm tươi tương đối khó khăn hơn.

Nội dung trong bài viết

Sự biến đổi của nấm sau khi thu hoạch

Bảo quản nấm

Dạng nấm muối

Dạng đóng hộp

Sự biến đổi của nấm sau khi thu hoạch

So với rau cải hay trái cây thì thời gian bảo quản của nấm ở nhiệt độ bình thường ngắn hơn nhiều, đặc biệt là khi chất đống hoặc đổ chồng lên nhau trong thùng hoặc cần xé. Nấm sẽ nhanh chóng mất nước và khô héo (nếu phơi trần) hoặc thối ủng (nếu chồng đống). Một số loài nấm có thể tiếp tục phát triển trở thành dạng trưởng thành, như nấm rơm, tai nấm dạng búp chuyển sang hình dù. Nói chung phẩm chất giảm và không được người tiêu dùng ưa chuộng.

Các biến đổi của nấm sau khi hái bao gồm:

Mất nước: nấm thường chứa nhiều nước (85 – 95%) và lượng nước cần thiết này mất rất nhanh do hô hấp và bốc hơi. Nấm đã hái rời khỏi mô vẫn còn tiếp tục quá trình sống và vì vậy vẫn hô hấp, thải khí CO2 và hơi nước. Ở tai nấm dạng búp có hiện tượng mất nứớc, nhưng nước sẽ bốc hơi nhanh khi mũ nấm mở và phát triển hoàn chỉnh. Nước cũng bốc hơi nhanh khi để nơi có gió và không khí nóng khô.

Sự thối nhũn: Thường nấm có ẩm độ cao hoặc làm khô chưa tới (trên 12% độ ẩm) hoặc nấm khô bị hút ẩm trở lại,…Có thể bị nhiễm vi sinh (nhiễm trùng hoặc nấm mốc). Sản phẩm bị nhiễm trùng sẽ có hiện tượng thối nhũn, hôi ê. Nếu nhiễm mốc còn tích luỹ độc tố và biến chế sản phẩm.

Sự biến chất: Sau 4 ngày bảo quản, lượng đường đa (polysaccharide) ở nấm thường trên 10% (Hammond, 1979), đã giảm xuông dưới 5%. Trong khi đó, chitin ở vách tế bào lại tăng lên 50% làm tai nấm trở nên đai chắc hơn. Chất béo trong nấm cũng bị biến đổi, bao gồm các axit béo không no do oxit hoá trở mùi, thậm chí gây độc cho người dùng. Trường hợp này có thể thây ở nấm rơm, chứa nhiều axit béo không no.

Ngoài ra, các loài nấm nhiệt đới có đặc điểm là hô hấp nhanh sau khi thu hoạch. Cường độ hô hấp tỷ lệ nghịch với thời gian bảo quản, nghĩa là cường độ cao thì thời gian bảo quản ngắn đi và ngược lại.

Bảo quản nấm

Sau khi thu hoạch, để đưa nấm đến tay người tiêu dùng, cần một thời gian bảo quản thích hợp.

Đối với nấm tươi: chỉ giữ được thời gian ngắn, bằng cách làm chậm sự phát triển, giảm cường độ hô hấp, chống thoát nước và bảo quản ở nhiệt độ thấp.

Đối với nấm khô: làm khô ở mức tối đa (còn 10 – 12%), bằng cách lấy nước trong tai nấm ra, sau đó bảo quản trong túi kín để tránh hút ẩm trở lại.

Đối với dạng khác: Dạng sơ chế, như muối mặn (nấm rơm, nấm mỡ,…) nấm được bảo quản ở độ muối 20 – 22 độ. Dạng đóng hộp, đã chế biến gần như thành phẩm và được cho vào bao bì kín là các hộp thiếc, đóng kín lại. Dạng muối chua, nhiều loại nấm ở dạng này cũng có thể giữ được thời gian khá lâu.

Bảo quản nấm tươi: Nấm rơm là nấm dễ biến đổi và hư hỏng nhanh so với các loại nấm trồng khác. Do đó việc bảo quản nấm rơm tươi tương đối khó khăn hơn. Hai cách để chuyển nấm rơm tươi từ Trung Quốc hay Đài Loan hoặc Thái Lan sang Hồng Kông hiện đang được sử dụng đó là:

Phương pháp của Trung Quốc: Dùng các thùng gỗ có ngăn, nấm được xếp vào ngăn giữa, hai ngăn còn lại bỏ đá để giữ lạnh.

Phương pháp của Đài Loan, Thái Lan: Nấm được cho vào các cần xé, ở trung tâm và từ đáy giỏ lên đặt ống thông khí, bề mặt đặt các bọc giấy đựng đá lạnh.

Cả hai cách đều sử dụng có hiệu quả trong việc bảo quản nấm rơm.

Những thí nghiệm về nhiệt độ bảo quản nấm rơm ghi nhận được như sau:

– Nhiệt độ thấp hơn 0°c: Nấm có thể giữ trên hai tuần, nhưng khi làm ẩm lại thì dễ chảy rữa và hư nhanh.

– Nhiệt độ 0 – 15°c: Nấm cho vào túi PVC đục lỗ nhỏ, có thể giữ được 4 ngày với độ ẩm mất khoảng 10%. Riêng nấm bảo quản ở 15°c về chất lượng có dấu hiệu hơn hẳn 10°c.

– Nhiệt độ 20°c: Thời gian bảo quản lâu hơn 4 – 6°c, nhưng ngắn hơn 10 – 15ºc.

– Nhiệt độ 30°c: Nấm chảy rữa sau 1 đêm và có dấu hiệu nhiễm khuẩn.

Kết quả cũng cho thấy nấm ở dạng búp dễ bảo quản hơn các dạng khác. Ở 25°c tỷ lệ nấm nở tăng lên, từ dạng trứng nhanh chóng chuyển sang dạng trưởng thành. Ngược lại, tai nấm sẽ nở chậm nếu để ở 15°c trong 4 giờ trước đó.

Đối với nấm bào ngư: Thời gian bảo quản có thể kéo dài và trọng lượng không giảm, nếu giữ nồng độ CO2 cao (trên 25°C) trong túi pE hoặc khô lạnh, cả ở nhiệt độ 1 – 5°c và 10 – 12°c (Juhasz và Dobray, 1977).

Ngoài ra người ta cũng thử bảo quản nấm bằng cách chiếu xạ tia hoặc bằng các loại hoá chất khác nhau, kể cả các chất oxit hoá, …Nhưng thường ít hiệu quả và nhất là không kinh tế.

Bảo quản nấm khô: Nấm có thể làm khô bằng hai cách: phơi nắng hoặc sấy (dùng hơi nóng).

Nấm đông cô phơi nắng không tốt bằng sấy, cả về màu sắc và mùi vị, nếu phơi nắng sẽ dễ bị nhiễm mốc. Có nhiều nước trên thế giới hiện đang cấm nhập khẩu các loại nấm phơi nắng. Ví dụ như nước úc cấm việc nhập nấm khô phơi nắng, ngoại trừ nấm đã được sấy lại trong thời gian 4 giờ ở nhiệt độ 60°c.

Để sấy nấm, người ta dùng tủ có nhiều ngăn và cung cấp không khí nóng để làm khô. Nấm được làm mất nước từ từ, lúc đầu là 30°c, sau đó mỗi giờ tăng 1 – 2°c, cuối cùng là tăng nhiệt độ lên tới 60°c và kéo dài trong 1 giờ.

Nấm đông cô thường 7kg tươi cho 1kg khô. Ở nấm mèo, mèo lông (A.polytria) thì 6 – 7kg tươi cho 1kg khô. Nấm bào ngư cũng phải từ 10 – 11 kg tươi mới cho 1kg khô.

Trường hợp nấm rơm, để nhanh khô phải chẻ đôi tai nấm và cũng như nấm đông cô, nấm sấy sẽ giữ được mùi vị và màu sắc tốt hơn phơi nắng. Quá trình sấy khô tiến hành ở 30ºc kéo dài 24 giờ. Nhiệt độ có thể bắt đầu ở 40°c và sau đó nâng dần lên 45ºc kéo dài 8 giờ. Ngoài ra, có thể sây khô ở 60°c trong 8 giờ hoặc khởi đầu bằng nhiệt độ 70°c trong 2 giờ, tiếp theo 65°c trong 2 giờ, 55 – 60°c trong 4 giờ nữa. Thường nấm khô chỉ còn khoảng 10% nấm tươi về trong lượng (10kg nấm tươi cho 1kg nấm khô) và có thể giữ cả năm.

Một phương pháp sấy khác tiến hành ở nhiệt độ thấp gọi là sấy đông khô. Nấm được làm lạnh (-20°c đến – 30°C), sau đó nâng nhiệt độ để nước bốc hơi trong điều kiện chân không, nấm rơm có thể mất hơn 90% nước do sấy bằng phương pháp này. Khi sử dụng tai nấm hút nước cho lại dạng gần như ban đầu. Tuy nhiên, vì giá thành cao nên phương pháp này ít thông dụng trong chế biến.

Dạng nấm muối

Phần lớn nấm rơm cũng như nấm mỡ, hiện nay được xuất đi dưới dạng muối mặn.

Nấm được luộc sơ trong nước sôi để tế bào ngừng hoạt động. Nước luộc cho thêm axit ascorrbic, sao cho pH = 3, cộng với một ít muối. Thường axit citric được dùng nhiều hơn, còn axit sultYuric và các muối của nó bị cấm sử dụng ở một sổ nước. Sau đó vớt ra làm nguội, ướp muối khô để rút nước bên trong nấm. Cuối cùng cho nấm vào một dụng cụ chứa và ngâm ngập trong nước muối 20 – 23°c. Ở giai đoạn này, nếu nước ngâm bị đục, phải thay nước muối khác để tránh nhiễm trùng và mốc. Thời gian bảo quản như vậy được vài tháng.

Dạng đóng hộp

Còn gọi là phương pháp Appert (được sử dụng ở Pháp lần đầu tiên vào năm 1780). Quy trình gồm 6 giai đoạn: làm sạch, tẩy trắng, đóng hộp, khử trùng, làm lạnh, dán nhãn, bao bì. Nấm đóng hộp còn chia làm 4 loại nấm sô (không phân loại), dạng nút, cắt lát, chân nấm.

Đầu tiên nấm được làm sạch và ngâm trong nước có Clor (5ppm = 5mg Hypocorit Ca cho 1 lít nước). Thời gian ngâm là 5 – 10 phút. Sau đó tráng lại dưới vòi nước (nước luân lưu). Cho nấm vào các khay đục lỗ và hấp ở 100°c trong 5 phút hoặc luộc trong nước sôi từ 2 – 3 phút (tương tự trong trường hợp nấm muối). Làm nguội nhanh bằng cách nhúng vào nước lạnh luân lưu. Vớt ra để ráo rồi xếp vào hộp. Mỗi hộp khoảng 300 – 310g nấm (loại hộp 460g).

Hộp nấm được làm đầy bằng nước muối đun sôi. Dịch nước muối có thể gồm: nước muối 2,5%, bột ngọt 0,03%, clorua canxi 0,3% hoặc muối ăn 2,5% và axit citric 0,25 – 0,5% (Moreau, 1979). Nhiệt độ nước muối rót vào không dưới 80°c.

Nâng nhiệt độ lên 85°c kéo dài 15 phút để đẩy khí trong hộp ra rồi ghép nắp lại.

Sau đó khử trùng bằng autoclave theo phương pháp Tyndall (khử trùng 3 lần). Nhiệt độ nồi hấp là 121°c và thời gian khử trùng theo thứ tự 7 – 15 – 20 phút. Lau khô, lau dầu bảo quản như các loại đồ hộp khác.

Trường hợp hộp thiếc tráng men tốt, nấm bảo quản theo cách này có thể kéo dài được vài tháng đến cả năm.

Cách Chế Biến Và Bảo Quản Quả Trám / 2023

Trong các sách thuốc trám còn có tên chữ Hán là Sơn Lãm, Cảm Lãm, Gián Quả, Thanh Quả và cây trám còn được gọi là cây bùi vì quả ăn rất bùi. Có hai loại trám phổ biến là trám đen và trám trắng (hay còn gọi làm trám xanh), ngoài ra thì một số tài liệu còn nhắc tới trám hồng. Riêng trám đen có hai loại là trám chim và trám trâu, một loại quả ngắn tròn mỏng thịt một loại thon dài thì nhiều thịt và béo bùi hơn.

1. Cách chọn trám đen, sơ chế và bảo quản

Khi chọn trám đen, bạn nên chọn quả thon dài hai đầu, sờ còn thấy cứng, da phấn và mịn chứ không bị nhăn nheo hay bị rộp.

Khi mua về là bạn phải tãi ra rổ rá và để ở chỗ mát cho thoáng, chỉ cần trám đen bị hấp hơi ở trong túi nylon là sẽ bị mềm loét ra ở những chỗ bị nóng. Như thế thì coi như là hỏng, vì khi ta đi rửa và xát trám cho ra nhựa, những chỗ này sẽ bị loét trơ hạt, khi om sẽ bị nhạt trám, dễ bị ủng nước và nhanh chua, nhanh hỏng.

2. Cách sơ chế và om trám đen

Để trám không bị chát thì bạn phải làm kỹ khâu “vo” xát trám. Cho trám vào rá tre, nhúng nước, nhấc lên, dùng tay hoặc vật dụng xoa ấn để quả trám xát vào nhau và xát vào rá cho phôi nhựa. Lại nhúng rửa nước, nhấc lên rồi lặp lại quá trình này 5-7 lần đến khi trám sạch mịn, nước không còn đen.

Om trám rất dễ mà cũng rất khó, nhiều người om bị sượng, được đầu nọ thì mất đầu kia – giống như quả trám bị hấp hơi, đầu thì nhũn đầu thì cứng. Nguyên nhân thì có thể là vì nước không đủ nóng nên trám chưa mềm đều nước đã bị nguội làm phần còn lại không mềm ra được.

Pha nước nóng già tay, khoảng 60 độ C, cho thêm một chút muối rồi thả trám đã sơ chế vào, đậy vung và để ở nơi tương đối ấm, sau 30 phút là ăn được.

Trám om ở nhiệt độ khác nhau cho các kết quả khác nhau, nước lên tới 70 độ C là trám bị cứng chát. Nếu thấp dưới 50 độ C thì khó chín, mà nếu chín cũng không ngon. Từ 55-62 độ C là trám chín đẹp nhất (độ sai lệch là khoảng 5 độ C). Trám chín ở 55 độ C có thịt vàng viền tím, khi để nguội thi thịt trám sẽ tím dần. Khi trám đã mềm rồi thì sẽ không cứng đơ lại nữa, mà nếu để lâu ngoài không khí thì sẽ bị lên váng, chua và ủng.

Để giữ trám được lâu hơn, bạn pha nước muối hơi mặn, nóng già, đổ trám đã om vào đó cho chắc lại một chút. Để nguội rồi cất vào tủ mát có thể ăn tới cả tuần. Ngoài ra bạn có thể dùng cách đóng hộp giống như làm mứt.

Món ăn từ quả trám

Trám được dùng để chế biến nhiều món ăn, trám trắng thì làm mứt, làm ô mai, kho cá, kho thịt và cả ngâm mắm để ăn dần nữa. Trám đen thì thường được om mềm rồi mới dùng để kho thịt cá, hoặc là nhồi thịt hấp nhưng phổ biến nhất vẫn là ăn luôn.

Trám đen đã om, tách hạt ngang hoặc dọc đều được, rồi chấm với muối vừng, nước mắm hoặc nước kho thịt đều ngon. Nhưng hợp nhất có lẽ là “nước chấm” thịt băm – thit nạc băm nhỏ, hành khô phi thơm, cho thịt đã ướp mắm tiêu vào đảo đều cho săn lại, cho thêm chút nước làm nước chấm, nêm nếm thêm gia vị vừa ăn, tắt bếp và rắc hạt tiêu thơm.

Trám đen sau khi om thì béo bùi và thơm nhẹ chứ không còn cứng đơ và chát nữa. Cũng với thịt béo, ăn trám đen chấm mắm tôm cùng thịt ba chỉ luộc, rau thơm và khế thì “thôi rồi”, ăn nhanh kẻo hết.

Công Dụng Thần Kỳ Của Hạt Đác Và Cách Chế Biến Hạt Đác “Ngon Tuyệt” / 2023

Hạt đác là gì?

Hạt đác là hạt của cây đác (có tên khoa học là Arenga pinnata). Ở nước ta, loại cây này sống chủ yếu tại những vùng Nam Trung Bộ như: Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Yên.

Hạt đác không thuốc trừ sâu, không chất bảo quản, ít calo, chất béo và giàu vitamin cùng các khoáng chất khác như sắt, kali, magie, canxi, natri và photpho… Với mùi vị thơm ngon và giá trị dinh dưỡng cao, nó là một thực phẩm tuyệt vời cho sức khỏe và làm đẹp.

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hạt đác có thể giúp tăng cholesterol HDL (loại cholesterol tốt). Vì vậy, đây là một thực phẩm tự nhiên tuyệt vời để duy trì sức khỏe tim mạch. Nó giúp làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch và các biến cố tim mạch nghiêm trọng khác.

Bên trong mỗi 100g hạt đác có đến 91mg canxi. Vì vậy, nó rất phù hợp để đáp ứng nhu cầu canxi và ngăn ngừa loãng xương cho cơ thể. Hạt đác còn hỗ trợ quá trình hấp thụ magie. Nhờ đó giúp xương trở nên mạnh khỏe, cứng cáp hơn.

Galactomannan là một Carbohydrate có chứa trong hạt đác. Chất này thường được sử dụng như một thành phần trong sản xuất các loại thuốc trị viêm khớp, có chức năng làm giảm đau do viêm khớp.

Theo như nhiều kết quả nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, trong hạt đác chứa nhiều Kali và axit lauric. Mà những bệnh nhân có huyết áp cao thường có mức độ kali thấp. Vì vậy, ăn hạt đác thường xuyên có thể khá hiệu quả trong việc điều hòa huyết áp.

Hạt đác có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu dưỡng chất bao gồm vitamin, khoáng chất, amino acid…Đồng thời giúp cải thiện sự tiết insulin và sử dụng đường. Ngoài ra còn hỗ trợ quá trình hấp thụ canxi và magie.

Đối với những vận động viên rèn luyện thể lực, hạt đác là một kho cung cấp nguồn năng lượng nhanh. Giúp vận động viên hồi phục và tái tạo những mô bị tổn thương.

Đây là sản phẩm an toàn, không chất bảo quản lại nhiều chất dinh dưỡng nên có khả năng giúp bà bầu lợi sữa, bổ sung vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, hạt đác thường được sử dụng trong các món ngọt, vì vậy các mẹ bầu cần điều chỉnh cách chế biến ăn phù hợp.

Hạt đác rim dứa

200 gram mít.

250 gram hạt đác.

50 gram bột năng

1 gói thạch đen sương sáo

500ml sữa tươi không đường

100ml nước cốt dừa

Sữa đặc, đường, bột báng và phẩm màu hồng.

Sơ chế hạt đác: Rửa sạch, luộc qua nước sôi, rửa một lần nữa và để ráo.

Pha sữa dừa cho vào chè. Đổ 500 ml sữa tươi không đường, thêm 1 thìa sữa đặc để tạo độ ngậy. Cuối cùng cho nước cốt dừa vào khuấy đều rồi để tủ lạnh.

Thạch đen sương sáo bạn có thể thực hiện theo hướng dẫn trên bao bì. Khi thạch đông, dùng dao cắt thành hạt lựu lớn.

Đổ bột năng ra bát, thêm 1-2 giọt phẩm màu hồng. Chế thêm nước sôi để nguội, nhào bột cho mịn, không dính tay. Nặn thành viên tròn nhỏ, cho vào luộc rồi vớt ra để vào bát nước đá.

Hạt đác tươi ngâm cho nở rồi rửa sạch. Sau đó, chần qua nước sôi bỏ vào cùng mít thái sợi nhỏ.

Khi ăn bạn chỉ cần trộn nguyên liệu vào với nhau, thêm đá có thể dùng ngay.

Sơ chế hạt đác: Rửa sạch, luộc qua nước sôi, rửa một lần nữa và để ráo.

Ngâm hạt đác với nước đường trong 3 tiếng đồng hồ

Cho hỗn hợp hạt đác và nước đường rim trên lửa to hết cỡ cho đến khi sôi.

Sau 5 phút sôi, từ lửa to hạ lửa nhỏ liu riu. Đun thêm 15 phút nữa hoặc đác cạn hết nước là được.

Tắt bếp để nguội.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chế Biến Và Bảo Quản Hạt Đác / 2023 trên website Ctc-vn.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!