Đề Xuất 12/2022 # Cách Chế Biến Món Lươn Của Người Nhật / 2023 # Top 17 Like | Ctc-vn.com

Đề Xuất 12/2022 # Cách Chế Biến Món Lươn Của Người Nhật / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Chế Biến Món Lươn Của Người Nhật / 2023 mới nhất trên website Ctc-vn.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cách chế biến món lươn của người Nhật

Một món lươn ngon thường có mùi thơm gần giống mùi patê với hương vị rất đặc biệt, da lươn giòn mà thịt bên trong mềm. Để có được món lươn đạt tiêu chuẩn, quá trình chế biến phải rất công phu: đầu tiên, lươn được nướng trên than hoa, sau đó hấp lên để loại bỏ bớt mỡ lươn, tiếp tục phết một chút sốt ngọt và nướng lại trên than hoa lần thứ hai. Tại vùng Kansai (Osaka), người ta kéo dài thời gian nướng để loại bỏ mỡ lươn thay vì công đoạn hấp, cách làm này làm cho da lươn giòn hơn.

Một mâm cơm của người Nhật

Các thành phần trong sốt ngọt phết lên miếng thịt lươn trước khi nướng rất quan trọng, nó quyết định hương vị của món lươn. Mỗi nhà hàng lại có bí quyết riêng để làm món sốt ngọt này. Hơn thế, chất lượng của than hoa cũng rất quan trọng. Loại than hoa lý tưởng nhất là than từ gỗi sồi, khói của loại than này có mùi thơm rất đặc trưng và chính mùi khói đó tạo ra hương vị khác biệt cho món lươn khi nướng. Ngoài ra, để có được món lươn ngon, con lươn dùng để chế biến phải là lươn tự nhiên, có độ dài từ 30 đến 50cm. Vì hiện nay lươn còn được nuôi ở những trang trại, và thịt lươn nuôi thì không ngon như lươn tự nhiên. Những nhà hàng chuyên về lươn thường bảo quản lươn sống trong những thùng lớn và chỉ chế biến lươn khi khách đã gọi món. Tuy phải mất rất nhiều thời gian, nhiều thực khách sẵn sàng chờ đợi để được thưởng thức món lươn hoàn hảo này. Để nhận ra một nhà hàng chuyên về lươn rất dễ dàng, bạn chỉ cần nhìn thấy chữ U – chữ cái đầu tiên của chữ Unagi (lươn) trong tiếng Nhật – trên biển hiệu, chữ này được kéo dài ra và cách điệu thành hình con lươn rất đẹp mắt và độc đáo.

Lươn nướng không ăn kèm với cơm được gọi là Kabayaki và thường được phục vụ như một món khai vị cùng đồ uống. Lươn nướng ăn với cơm lại là một món ăn chính, được gọi là Unajuuhay Unagi donburi. Mỗi món trên có thể được làm theo kích thước to nhỏ khác nhau.

Người ta gọi món lươn được nướng mà không phết sốt là Shirayaki, cách chế biến này giữ được hương vị thuần túy của thịt lươn. Món lươn này hợp với người thích thưởng thức lươn nguyên vị. Nếu bạn chọn thực đơn lươn trọn gói, bạn sẽ được phục vụ món Kimosui, một loại súp nấu từ gan của lươn. Gan lươn rất bổ dưỡng, tuy nhiên không phải ai cũng thích mùi vị của nó. Một số nhà hàng chuyên lươn còn phục vụ món DojO (cá chạch), một loại cá cùng họ với lươn. Khi phục vụ các món lươn, bạn nên rắc sansho (một loại hạt tiêu xay của Nhật bản) lên lươn để tăng thêm mùi vị cho món ăn này.

Ảnh: v-ndc.com

Lươn không chỉ nổi tiếng bởi hương vị đặc biệt mà còn vì tác dụng tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Thông thường, người Nhật ăn các món lươn vào ngày nắng nhất của mùa hè để bổ sung vitamin và sự đề kháng cho cơ thể trong suốt cả năm.

Ẩm thực 365

Người Nhật Chế Biến Lươn Biển Cỡ Lớn / 2023

Loài lươn sống dưới đáy biển có giá thành cao do sở hữu kích thước lớn, số lượng ít cùng hương vị khác biệt.

Chị em vô cùng bất ngờ với công dụng như sâm của món lươn

Lươn được coi là loại sâm động vật, bổ như thuốc quý, được người dân châu Á chế biến thành nhiều món vừa ngon vừa bổ.

Lươn là loại nguyên liệu rẻ, sẵn có có nhiều vùng nông thôn Việt Nam từ Bắc vào Nam. Người châu Á nói chung, trong đó có người Nhật Bản và Trung Quốc, từ xa xưa cũng đã đặc biệt chú ý đến các món ăn từ lươn bởi mang nhiều công dụng tuyệt vời với sức khỏe. Thậm chí, món ăn này còn được mệnh danh là “sâm động vật” bởi những tác dụng quý như vàng mười.

Theo Đông y, lươn là món ăn được xem là vị thuốc quý, có giá trị dinh dưỡng cao, vị ngọt, tính ấm, không độc. Còn theo Tây y, thịt lươn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng như vitamin A, B1, B6 hay chứa chất sắt, natri, kali, canxi… cần thiết cho cơ thể

Tác dụng chính của thịt lươn

– Phòng chữa viêm gan, bổ âm mát gan: đây là một trong những công dụng nổi bật nhất của món lươn.

– Chữa chứng suy nhược cơ thể, bồi dưỡng khí huyết, tốt cho người gầy, thể trạng yếu, người già, trẻ nhỏ, phụ nữ sau sinh, khí huyết không điều hòa.

– Tốt cho xương khớp, chữa đau nhức xương sống, phong thấp ở người già

– Hỗ trợ điều trị các bệnh trĩ nội, trĩ ngoại. Ăn thịt lươn nước ngọt hoặc lươn biển để giúp cầm máu và tiêu búi trĩ.

– Bổ thần kinh, tăng cường trí não cho những người phải làm việc trí óc

– Hỗ trợ điều trị sức khỏe tình dục, sinh sản cho cả nam và nữ

– Chữa bệnh mồ hôi tay, chân

Món cơm lươn trứ danh của người Nhật. Ảnh: Nguyên Chi

Kiêng kỵ

Người bị bệnh sốt rét, vàng da, kiết lỵ, đầy bụng, khó tiêu, không nên ăn lươn. Thai phụ cũng không phù hợp để ăn các món từ thịt lươn.

Khi chế biến, bạn phải đun nấu thật chín để loại trừ hẳn các ký sinh trùng trong thịt lươn. Chúng có số lượng khá nhiều và có tính kháng nhiệt nên cần đun nhiệt độ cao. Ngoài ra, không ăn lươn đã bị ươn hoặc chết.

Cách chế biến lươn hết nhớt

Thông thường, những người bận rộn có thể mua lươn làm sẵn để tiết kiệm thời gian. Nhưng không ít người vẫn có thói quen mua lươn sống về để chế biến, giá thành rẻ và thịt lươn tươi ngon hơn. Tuy nhiên, lươn có lớp da nhớt bên ngoài, khi làm thịt, cần phải làm theo cách đặc biệt. Bạn có thể áp dụng một trong các cách sau:

– Dùng nước cốt chanh hoặc nước vo gạo để vuốt lên mình lươn đến khi nào không còn cảm giác nhớt và lươn hết giãy đạp

– Dùng nước ấm, cho lươn vào ngâm 15 phút cho sạch nhớt

– Lấy tro bếp chà xát lên thân lươn rồi vuốt sạch, xả kỹ với nước

Sau khi đã hết nhớt, bạn mổ bụng, bỏ ruột, rửa sach bằng nước muối, hấp chín lươn rồi mới gạc lấy thịt. Không để lươn ngâm vào nước khi đã luộc chín vì làm vậy lươn sẽ bị tanh.

Gợi ý một số món ngon từ lươn

Lươn om chuối đậu

Nguyên liệu:

– Lươn đã sơ chế: 200 gr

– Thịt heo ba chỉ: 200 gr

– Đậu phụ: 2 bìa

– Chuối xanh: 3 quả

– Tiá tô, lá lốt , hành lá

– Hành khô, nghệ tươi

– Mẻ: 2 thìa

Nguyên liệu:

– 300 gr lươn

– 1/4 bát con gạo tẻ

– 1 nhúm đỗ xanh đã sát vỏ

– Nửa thìa nhỏ bột nghệ

– Hành khô, muối, hạt nêm, rau răm, hành hoa, rau mùi và tiêu

– Ớt bột và dấm.

Nguyên liệu:

– 300 gr lươn

– 1 lọn miến đỗ xanh

– 1 – 2 nhánh sả

– Vài tai mộc nhĩ (nấm mèo)

– Ớt quả, muối, hạt nêm, đường, hạt tiêu

– 1 thìa nhỏ bột cà ri

– Hành lá, hành khô, mùi tàu (ngò gai), rau ngổ

– Bánh đa ăn kèm.

Miến lươn xào lăn Món lươn xào lăn với thịt lươn béo có vị cay nồng của ớt, thơm của sả, điểm thêm mùi thơm của các loại rau, được rất nhiều người yêu thích. Nguyên liệu: – 300g lươn – 1 lọn miến đỗ xanh – 1 – 2 nhánh sả…

Nguyên Liệu Chế Biến Món Ăn Của Người Việt / 2023

Bếp việt – truyền thống và hiện đại

Tôi được may mắn làm nghề nghiên cứu “Sinh – Khảo cổ học”, lại có một thời gian tham gia nghiên cứu, giảng dạy về Nhân học và môi trường. Vì cái nghiệp ấy nên tôi có ít nhiều điều kiện tìm hiểu bếp ăn của các cộng đồng cư dân cư trú trên lãnh thổ Việt Nam từ thời nguyên thủy cho tới hôm nay.

Trên đất nước Việt Nam bao gồm các đồng bằng lớn, núi cao, bờ biển và nhiều hải đảo xa xôi, mỗi vùng miền lại có những sản vật riêng vô cùng đa dạng và phong phú.

Việt Nam có 54 dân tộc anh em và mỗi dân tộc dù sống lâu đời trên mảnh đất này hay di cư từ các nơi khác đến đều có những nét đặc trưng trong phương thức sống và một lối ăn mang phong cách đặc sắc của mỗi tộc người.

Tìm hiểu các nét đặc sắc trong mỗi bếp ăn của các dân tộc trên đất nước Việt Nam từ cổ chí kim thực không đơn giản. Nó đòi hỏi phải thu thập tư liệu một cách công phu, hệ thống và cần có một kiến thức rộng lớn bao gồm cả những kiến thức khoa học tự nhiên cho đến các kiến thức về phong tục tập quán muôn màu muôn vẻ.

Trong bài viết này, tôi chỉ xin thử góp phần tìm hiểu bếp của người Việt (hay còn quen gọi là người Kinh, là cư dân đông nhất ở Việt Nam). Người Kinh tồn tại khắp nơi trong cả nước nhưng ở mỗi vùng miền, mỗi khu vực sinh thái khác nhau lại có những tập quán ăn uống cũng khác nhau. Bởi thế, với kinh nghiệm ít ỏi của bản thân đã tích lũy được, tôi chỉ xin bàn về cái bếp Việt trong truyền thống và hiện đại. Tư liệu chủ yếu thu thập ở trong vùng đồng bằng Bắc Bộ và có so sánh với bếp Việt ở các vùng miền khác nhau trong cả nước từ Bắc chí Nam.

Trước hết, từ “Bếp Việt” tôi dùng ở đây xin được hiểu theo nghĩa rộng: đó không chỉ là cái bếp với củi lửa, nồi niêu, bát đũa, thức ăn…mà là cái văn hóa ẩm thực Việt. Đương nhiên trong cái văn hóa ẩm thực thì bao giờ cũng phải kể đến cái bếp. Trên thế giới người ta cũng hay dùng từ “Cuisine” có gốc Pháp để nói về nghệ thuật ăn uống. Ví dụ “Cusine Francais” là bếp Pháp cũng được hiểu như nghệ thuật ẩm thực, văn hóa ẩm thực Pháp…

Người Việt ăn gì ?

Khi đặt câu hỏi này, hầu như bất cứ người Việt hay cư dân châu Á nào cũng có thể dễ dàng trả lời “Người Việt ăn cơm”. Cơm tức là lúa gạo. Hạt gạo được cho vào ống tre, đổ chút nước lấy lá nút lại đốt trong đống lửa, thế là gạo chín và chẻ ống nứa ra ta đã có cơm ăn. Đó là thứ cơm lam, một trong những cách nấu cơm cổ nhất của người Việt. Theo tư liệu có được và sử sách ghi lại thì từ hàng nghìn năm trước, người Việt chủ yếu sống trên vùng đồng bằng cao, trồng lúa nương và ăn gạo nếp. Sau này, trong quá trình chiếm lĩnh đồng bằng, cư dân Việt chuyển dần sang trồng lúa tẻ và ăn cơm tẻ.

Lối ăn cơm nếp cổ truyền ấy còn thấy ở nhiều nhóm dân tộc thiểu số sống ở miền núi như người Mường (là gốc lâu đời của người Việt) và nhiều nhóm cư dân khác như Thái, Xá, Tày… Cách đây khoảng ngót trăm năm trước, cư dân thiểu số sống trên núi vẫn canh tác lúa nương và ăn cơm nếp, ủ lúa nếp thành rượu để uống rượu cần trong các hội hè. Sau này, do không có gạo nếp, có một số đồng bào Thái, Xá khi đồ gạo tẻ vẫn thực hiện cách đồ 2 lần. Hạt gạo đồ chín tới, người ta đem nhúng vào nước lạnh rồi vớt ra đồ tiếp. Làm như vậy hạt gạo trở nên dẻo, khi ăn có cảm giác như ăn cơm nếp vậy.

Trong tục thờ cúng tổ tiên và các loại bánh trái dâng lễ trong ngày tết đầu năm, trên bàn thờ, mâm cỗ không thể thiếu món xôi nếp và bánh dầy, bánh chưng là những sản vật quan trọng làm từ gạo nếp. Người ta mong tổ tiên về xum họp với người sống trong ngày giỗ, ngày tết và món ăn xưa của tổ tiên thì chủ yếu là gạo nếp.

Thủa xưa, thời khai sinh lập địa 4- 5000 năm trước, người Việt mới chiếm lĩnh đồng bằng, sống chủ yếu bằng săn bắt và hái lượm, thóc gạo sản xuất ra không nhiều, chưa đủ thỏa mãn cho cộng đồng. Bởi vậy, ngoài số lúa có hạn, người ta vẫn tiếp tục duy trì phương thức khai thác bằng cách hái lượm các sản vật tự nhiên vốn có trong thiên nhiên. Theo sử sách ghi lại thì ở thời này, người ta còn biết khai thác một số củ cây có chất bột như khoai vạc, củ từ và lấy tinh bột từ lõi cây búng báng, một loại cây nhiệt đới thuộc họ cau dừa để giã ra làm bánh hoặc ủ lên men làm rượu.

Ngoài cơm và các cây có củ gốc bản địa ra, thủa xưa người Việt còn ăn những rau có trong thiên nhiên. Nếu so với hệ rau mà người Việt ngày nay thường ăn hàng ngày thì các loại rau đó cũng rất ít ỏi. Theo sách cổ để lại và theo lịch sử cây trồng của khu vực thì thời ấy người ta chỉ ăn có rau muống, rau mồng tơi, rau diếp, rau cải, rau rút, rau đay, bầu bí, mướp, cà, rau ngót, rau sắng, rau răm, rau ngổ và một số nấm rừng. Chăn nuôi thì chỉ có gà, lợn, trâu, chó, mèo và cá. Người ta cũng bắt trong tự nhiên nhiều loài thủy sản như trai sò ốc, cua, các loài ếch nhái và cả một số côn trùng và thú rừng.

Ngày nay, nếu hỏi bất kì người nông dân Việt nào rằng ngoài cây lúa ra, các bạn còn có nguồn lương thực nào khác? Ai cũng có thể dễ dàng trả lời “có gì lạ đâu? Ngoài lúa chúng tôi còn có ngô, khoai, sắn”. Trong dân gian có câu ca dao:

“Được mùa chớ phụ ngô khoaiĐến khi thất bát lấy ai bạn cùng”

Ngô, khoai, sắn và sau này cả khoai tây nữa cũng đã trở thành những nguồn lương thực rất quan trọng của người Việt Nam suốt mấy trăm năm qua.

Do dân số ngày càng tăng mà năng suất lúa không đủ cung cấp nên từ xưa người Việt đã phải tìm thêm nguồn lương thực có chất bột để thay thế cho cơm gạo hoặc bổ sung cho lúa gạo khi mùa màng thất bát. Lúa gạo luôn là một nguồn lương thực truyền thống, nguồn lương thực sang trọng của người Việt. Tuy nhiên khi thiếu gạo thì người ta phải đưa vào nồi cơm các sản phẩm có nguồn gốc ngoại lai là ngô, khoai và sắn.

Ngô, khoai và sắn có nguồn gốc từ Mỹ Châu nhưng nó đã được đem vào lục địa Á Châu và vào Việt Nam từ thời điểm nào? đó vẫn còn là một bí mật chưa được giải mã. Có một điều đáng lưu ý rằng người Việt có tập quán ăn cơm thế nên mới có câu: Cơm tẻ mẹ ruột chứ không ăn bánh trong bữa ăn thường nhật tuy rằng từ lúa gạo và các loại cây củ, ngũ cốc khác người Việt cũng làm ra những thứ bánh đặc sắc của riêng mình. Do vậy, khi ăn cơm cùng với ngô, với khoai, với sắn, người ta dùng cách ăn độn. Nồi cơm được nấu theo lối thông thường sau bỏ thêm những bát ngô xay, những lát sắn khô, khoai khô vào và nấu thành cơm độn. Ăn cơm độn cũng như ăn cơm thường, cũng chan canh, cũng ăn cùng với thức ăn. Sau này, trong suốt những năm chiến tranh của cuối thế kỉ XX, người dân Việt ở nhiều đô thị và nông thôn không đủ lương thực, được viện trợ bột mì từ Nga và các nước Đông Âu, người ta cũng đã làm bánh mì theo kiểu Âu, bánh bao theo kiểu Trung Hoa nhưng dân Việt vẫn thích ăn kiểu độn vì nó hợp với truyền thống ăn cơm xưa nay. Thế là người ta đem cán bột mì thành mì sợi và khi nấu cơm thì trộn mì sợi vào nồi cơm thế là thành cơm độn mì, ăn theo lối ăn cơm.

Thịt và mỡ là các thức ăn quý hiếm, xưa kia thường chỉ ăn trong ngày giỗ ngày tết hoặc trong các tiệc như cưới xin, ma chay. Thịt mới chỉ trở thành món ăn phổ biến, món ăn hàng ngày của đại đa số người Việt Nam trong khoảng mấy chục năm gần đây mà thôi. Cũng xin nói thêm rằng người Việt xưa không có thói quen uống sữa và thịt bò cũng không phải là thức ăn phổ biến. Trong lễ hội xưa làng thường mổ trâu, mổ lợn, mổ gà để cúng tế. Con trâu, con bò là vật nuôi để lấy sức kéo và tạo nguồn phân bón chứ không nhằm mục đích chỉ để lấy thịt.

Như vậy, chỉ điểm qua cách ăn cơm của người Việt, ta đã thấy trong lịch sử ăn uống Việt Nam, thành phần ăn cơ bản nhất là cơm, là lúa gạo, nó đã chiếm một vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, ngay trong cách chuẩn bị mâm cơm hàng ngày của người Việt trong lịch sử cũng cho thấy dân Việt không bảo thủ. Người ta sẵn sàng chấp nhận đưa thêm vào bát cơm của mình những sản phẩm ngoại lai như ngô, khoai, sắn và sau này là bột mì, khoai tây… nhưng vẫn bảo thủ trong cách chế biến theo lối ăn truyền thống của mình. Người ta dùng kĩ thuật độn để giữ được cái thành tố cơ bản trong một bát cơm Việt. Người ta không chế biến ngô theo kiểu của cư dân Mêhicô hay chế biến sắn, khoai lang theo kiểu Peru hay Phi Châu mà biến cái sản phẩm ấy theo cách của mình để giữ được cái truyền thống bữa cơm hàng ngày có từ nghìn đời nay.

Tuy nhiên, với các sản phẩm ngoại lai ấy, người Việt còn sáng tạo ra nhiều món ăn tài tình, đặc sắc mà chỉ ở Việt Nam mới có. Ngay ở Mỹ châu, quê hương của cây sắn, cây ngô cũng chưa bao giờ có những sản phẩm độc đáo và đạt được đỉnh cao trong nghệ thuật chế biến ẩm thực như một số bánh trong bếp Việt mà tôi sẽ trình bày ở phần sau.

Phần tiếp theo sẽ là: Bữa cơm gia đình truyền thống xưa và nay mời các bạn theo dõi.

chúng tôi Nguồn: Trung tâm đào tạo nấu ăn Quả Táo Vàng

Chế Biến Sá Sùng Khô Đúng Cách Của Người Quan Lạn / 2023

Chế biến sá sùng khô đúng cách của người Quan Lạn không phải ai cũng biết. Sá sùng tại Quan Lạn được đánh giá đem lại chất lượng tốt nhất và người dân nơi đây từ lâu đã nổi tiếng với nghề bắt và chế biến sá sùng.

Sá sùng được mệnh danh là “vàng ròng” miền biển. Nhưng để cảm nhận hết vị thơm ngon và giữ được nguyên vẹn chất dinh dưỡng có trong sá sùng, bạn phải biết chế biến đúng cách. Không ai có thể nắm rõ điều này hơn những người dân Quan Lạn làm nghề lâu năm.

Làm sá sùng khô đúng chuẩn Quan Lạn

Bước 1: Làm sạch sá sùng tươi

Chuẩn bị một que tre nhỏ dài khoảng một găng ta, nhỏ bằng nửa ngón tay út được.

Một tay cầm sá sùng, một tay cầm que tre xuyên theo chiều dọc thân con sá sùng, rút ra những không làm rách thân nó. Nếu sá sùng bị rách sẽ kém hấp dẫn, giá trị kinh tế cũng thấp hơn.

Sá sùng đem cho vào chậu nước, dùng tay khuấy nước để cát bám trên người và trong bụng sá sùng được bong ra. Làm như vậy 3-4 lần.

Cho sá sùng vào rổ tre.

Đun một nồi nước sôii. Nhúng sá sùng vào để trần qua. Giữ khoảng 2-3 phút rồi nhấc lên luôn.

Để cho ráo nước.

Bước 2: Phơi hoặc sấy khô sá sùng

Xếp lần lượt từng con sá sùng lên tấm lưới sạch. Để ngay ngắn và trải dọc thân sá sùng. Sở dĩ sá sùng Quan Lạn nổi tiếng và được yêu thích chính là nhờ chất lượng cũng như mẫu mã đẹp.

Phơi dưới ánh nắng tự nhiên hoặc sấy khô bằng bếp than tổ ong. Sấy bằng bếp than chỉ trong khoảng 2-3 tiếng, cách này sẽ cho ra sá sùng khô nhanh và đẹp nhất.

Bước 3: Bảo quản sá sùng khô

Đóng sá sùng khô vào túi nilon, buộc chặt lại hoặc sử dụng túi hút chân không.

Nếu không có cơ hội được đến tận nơi, tự tay làm ra món sá sùng khô chất lượng, đừng lo, Cửa hàng Đặc sản Bá Kiến sẽ thay bạn làm việc đó.

Cửa hàng Bá Kiến chuyên cung cấp đặc sản Sá sùng Quan Lạn chuẩn chất lượng với mức giá phải chăng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và được Chứng nhận Hàng Việt Nam Chất lượng cao trong nhiều năm liền.

Các món ăn chế biến từ sá sùng khô của người Quan Lạn

Sá sùng nướng

Vặt hết vòi sá sùng.

Cho vào rổ xóc đều cho rơi hết cát bụi.

Cho sá sùng khô vào chảo sâu lòng.

Đổ một lượng cồn y tế vừa đủ rải đều vào chảo.

Đánh lửa để nướng những con sá sùng bên trong.

Dùng đũa nhôm hoặc dụng cụ bằng nhôm để đảo đều, sá sùng sẽ chín cùng nhau.

Đợi cho đến khi lửa tắt thì cho vào rổ. Để nguội bớt rồi dùng tay xát một lần nữa làm sạch cát.

Trình bày ra đĩa và thưởng thức.

Sá sùng khô nướng thơm ngon dùng làm mồi nhắm cho cánh mày râu thì các anh bao thích. Thêm một chút vị cay cay của tương ớt thì đúng vị rồi.

Sá sùng chiên nước mắm

Vặt hết vòi của từng con sá sùng khô.

Cho sá sùng vào chảo, bật bếp lên đảo đều cho tới khi sá sùng khô chuyển sang màu vàng nâu nhạt thì tắt bếp.

Đổ sá sùng ra rổ, dùng tay xát sạch cát.

Cho dầu ăn vào chảo đun nóng, phi thơm hành, tỏi, ớt băm nhuyễn.

Đổ sá sùng vào, đảo đều khoảng 4-5 phút cho tới ki chuyển sang màu vàng cánh gián là được.

Thêm nước mắm và chút bột ngọt vào.

Đợi thêm 1-2 phút thì tắt bếp, trình bày ra đĩa.

Sá sùng chiên nước mắm giòn thơm đậm đà thích hợp ăn cùng với cơm nóng.

Sá sùng chua ngọt

Pha hỗn hợp nước sốt chua ngọt gồm nước mắm, đường, dấm ăn, tỏi ớt băm nhuyễn, tương ớt. Trộn đều lên làm tan đường.

Sá sùng khô cũng đem vặt hết vòi rồi rang sơ qua trên chảo, xát kĩ để làm sạch cát.

Cho dầu ăn vào chảo đun nóng.

Đổ sá sùng khô đã làm sạch vào. Đảo đều cho tới khi sá sùng chuyển sang màu nâu cánh gián.

Cho hỗn hợp nước sốt chua ngọt vào. Đun cho tới khi nước sền sệt quyện đều vào từng con sá sùng.

Tắt bếp và trình bày ra đĩa.

Sá sùng chua ngọt được người dân Quan Lạn và du khách rất yêu thích bởi hương vị của nó. Món ăn này chắc chắn sẽ chinh phục được những bạn nhỏ trong gia đình.

Sá sùng nấu phở

Sá sùng vặt hết vòi, đem rang thơm rồi làm sạch cát.

Nước dùng được ninh từ xương ống trong 1-2 giờ, chỉ cần thả thêm 4-5 con sá sùng khô vào là được nồi nước ngọt thanh, hương vị đặc biệt mà không cần dùng hạt nêm hay mì chính.

Chuẩn bị các nguyên liệu như bánh phở, rau củ đầy đủ và thưởng thức.

Cháo sá sùng

Vặt vòi từng con sá sùng.

Đem sá sùng rang thơm lên.

Cho vào rổ và xát để làm sạch cát.

Cho sá sùng khô vào máy xay để làm thành bột mịn.

Nấu cháo như cách thông thường phối hợp với một số loại rau củ, thịt, cá…để tạo hương vị.

Cho cháo ra bát.

Lấy một muỗng bột sá sùng rắc bát cháo. Đảo đều.

Cháo sá sùng là món ăn bổ dưỡng cho các bé, người mới ốm dậy cũng như người cao tuổi.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Chế Biến Món Lươn Của Người Nhật / 2023 trên website Ctc-vn.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!